Xu Hướng 9/2023 # Văn Mẫu Lớp 12: Dàn Ý Cảm Nhận Vẻ Đẹp Sông Hương Trong Lòng Thành Phố Huế (4 Mẫu) Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông Của Hoàng Phủ Ngọc Tường # Top 9 Xem Nhiều | Bgxq.edu.vn

Xu Hướng 9/2023 # Văn Mẫu Lớp 12: Dàn Ý Cảm Nhận Vẻ Đẹp Sông Hương Trong Lòng Thành Phố Huế (4 Mẫu) Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông Của Hoàng Phủ Ngọc Tường # Top 9 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Văn Mẫu Lớp 12: Dàn Ý Cảm Nhận Vẻ Đẹp Sông Hương Trong Lòng Thành Phố Huế (4 Mẫu) Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông Của Hoàng Phủ Ngọc Tường được cập nhật mới nhất tháng 9 năm 2023 trên website Bgxq.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

I. Mở bài:

Giới thiệu về đề tài sông Hương

Giới thiệu Hoàng Phủ Ngọc Tường và bài bút kí

Giới thiệu sông Hương – biểu tượng của cố đô

Ví dụ:

Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những nhà văn chuyên về bút kí. Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là ở sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lí…Tất cả được thể hiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích mê đắm và tài hoa. “Ai đã đặt tên cho dòng sông” là bài bút kí xuất sắc, viết tại Huế, năm 1981 in trong tập sách cùng tên. Với sự tinh tế của một nghệ sĩ, với tình yêu dòng sông Hương của xứ Huế mộng mơ, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã diễn tả thành công vẻ đẹp dòng sông Hương ở trong lòng thành phố Huế.

II. Thân bài

1. Hoàn cảnh ra đời và nội dung tác phẩm

– Tác phẩm được sáng tác tại Huế năm 1981

“Ai đã đặt tên cho dòng sông” rút ra từ tập bút kí cùng tên, là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách văn chương Hoàng Phủ Ngọc Tường, lấy cảm hứng từ dòng sông Hương thơ mộng của xứ Huế để từ đó nhà văn bày tỏ tình yêu đất nước con người.

– Đánh giá nhận xét của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Có thể nhắc đến sông Xen, dòng sông đẹp nhất của thủ đô Pa ri để dẫn tới lời nhận xét của Hoàng Phủ Ngọc Tường ở câu mở đầu đoạn trích: “Trong những dòng sông đẹp ở các nước….một thành phố duy nhất”

Đánh giá: Nhận xét mang đậm tính chủ quan của nhà văn. Thể hiện nét độc đáo sông Hương, uyên bác, tự hào.

2. Sông Hương khi chảy vào lòng thành phố.

– Đánh giá đoạn văn, như câu chuyển ý: Đoạn văn như được cảm nhận dưới con mắt nghệ thuật của nhà văn, hội họa và âm nhạc. Sông Hương được ví như người tình của xứ Huế.

Sông Hương trong cảm nhận hội họa

Sông Hương trong cảm nhận âm nhạc

Nhà văn liên tưởng đến dòng sông Nê va của Lê-nin-grat…

III. Kết bài

“Ai đã đặt tên cho dòng sông” là tác phẩm văn xuôi súc tích và đầy chất thơ về sông Hương. Với xúc cảm sâu lắng được tổng kết từ một vốn hiểu biết phong phú về văn hóa, lịch sử, đại lí, văn chương và một văn phong tao nhã, nhà văn đã tái hiện thành công vẻ đẹp con sông Hương – công trình nghệ thuật thiên tạo mà hóa công đã ưu ái ban tặng cho con người và xứ Huế mộng mơ.

I. Mở bài:

– Giới thiệu về đề tài sông Hương

– Giới thiệu Hoàng Phủ Ngọc Tường và bái bút kí

– Giới thiệu vẻ đẹp của sông Hương khi chảy vào thành phố

II. Thân bài

1. Hoàn cảnh ra đời và nội dung tác phẩm

– Tác phẩm được sáng tác tại Huế năm 1981

“Ai đã đặt tên cho dòng sông” rút ra từ tập bút kí cùng tên, là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách văn chương Hoàng Phủ Ngọc Tường, lấy cảm hứng từ dòng sông Hương thơ mộng của xứ Huế để từ đó nhà văn bày tỏ tình yêu đất nước con người.

– Đánh giá nhận xét của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Có thể nhắc đến sông Xen, dòng sông đẹp nhất của thủ đô Pa ri để dẫn tới lời nhận xét của Hoàng Phủ Ngọc Tường ở câu mở đầu đoạn trích: “Trong những dòng sông đẹp ở các nước….một thành phố duy nhất”

Đánh giá: Nhận xét mang đậm tính chủ quan của nhà văn. Thể hiện nét độc đáo sông Hương, uyên bác, tự hào.

2. Vẻ đẹp của Sông Hương khi chảy vào lòng thành phố.

– Sông Hương trong cảm nhận âm nhạc

Nhà văn liên tưởng đến dòng sông Nê va cảu Lê-nin-grat…

3. Kết bài

– Nêu cảm nhận về hình tượng dòng sông Hương ở trong lòng thành phố Huế

– Đánh giá nghệ thuật nổi bật

1. Mở bài:

– Giới thiệu về tác giả, tác phẩm và vẻ đẹp sông Hương khi ở trong lòng thành phố Huế.

2. Thân bài:

a. Trình bày khái quát về tác giả, tác phẩm:

– Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn chiến sĩ có phong cách nghệ thuật độc đáo và là người có công đưa thể kí Việt Nam phát triển lên đến đỉnh cao.

– “Ai đã đặt tên cho dòng sông” là một trong tám bài kí xuất sắc nhất của Hoàng Phủ Ngọc Tường và được xuất bản lần đầu năm 1986.

b. Cảm nhận về vẻ đẹp sông Hương khi ở trong lòng thành phố Huế:

– Sông Hương vui hẳn lên giữa những bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long:

Dòng sông kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hương Tây Nam – Đông Bắc, tự uốn một cánh cung rất nhẹ nhàng sang đến Cồn Hến khiến dòng sông mềm hẳn đi như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu.

Sông Hương duy nhất thuộc về một thành phố, là niềm tự hào của xứ Huế, con người Huế.

Sông Hương đánh thức được linh hồn dân tộc, khác hẳn với các dòng sông ở cảnh lập lòe trong sương đêm những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ.

– Sông Hương được cảm nhận rất riêng trong sự tìm tòi thú vị của nhà văn, nó có chút lẳng lơ, kín đáo của tình yêu .

Nhìn bằng con mắt hội họa, sông Hương và những chi lưu của nó đã tạo nên những nét cổ kính của cố đô.

Advertisement

Sông Hương như người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya, làm cho Huế đẹp một cách trầm lặng và kín đáo.

c. Đánh giá:

– Sông Hương về với Huế giống như người con gái đi được nửa cuộc đời và tìm được tình nhân đích thực.

– Dưới ngòi bút điêu luyện của Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương được nhìn nhận ở nhiều phương diện khác nhau và mang vẻ đẹp của toàn thành phố.

3. Kết bài:

– Khái quát lại vẻ đẹp sông Hương khi ở trong lòng thành phố Huế.

1. Mở bài

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm

– Giới thiệu đoạn trích

2. Thân bài

– Sông Hương khi chảy vào thành phố Huế: Sông Hương được ví như người tình của xứ Huế. Sông Hương trong cảm nhận hội họa

Nhà văn liên tưởng đến dòng sông Nê va cảu Lê-nin-grat…

3. Kết bài

– Khái quát lại vấn đề

Tập Làm Văn Lớp 5: Tả Cảnh Dòng Sông Hương 2 Dàn Ý &Amp; 13 Bài Văn Tả Dòng Sông Lớp 5

Tương tự như khi Tả sông Hàn, các em có thể tả chi tiết từng cảnh vật hoặc tả theo trình tự thời gian sáng, trưa, chiều, tối để làm nổi bật vẻ đẹp của sông Hương. Đồng thời, kết hợp sử dụng các biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóa. Mời các em cùng tải miễn phí:

a. Mở bài

Giới thiệu về dòng sông Hương

Tình cảm, đánh giá của em dành cho dòng sông ấy

b. Thân bài

– Miêu tả dòng sông Hương:

Chiều dài, kích thước của dòng sông? (nếu không biết số đo, có thể áng chừng với những đồ vật khác)

Độ sâu của dòng sông là bao nhiêu?

Dòng sông Hương đã chảy qua những nơi nào, và đổ ra đâu?

Nước sông Hương có màu sắc gì? Màu sắc ấy thay đổi như thế nào qua những khoảnh khắc trong ngày?

Mặt sông có đặc điểm như thế nào? (vào những khi có gió hay những buổi mưa rào)

Hai bên bờ sông Hương có những gì? Cảnh vật đó đem lại cảm xúc gì cho em?

Trên dòng sông có cây cầu nào bắc qua không? Cây cầu đó có đặc điểm gì?

– Hoạt động của con người trên dòng sông Hương:

Đây là một địa điểm du lịch, nhiều người đến để ngắm sông từ hai bên bờ, hoặc đi thuyền trên sông

Hoạt động đi thuyền rồng nghe nhã nhạc cung đình Huế trên sông Hương buổi tối

Những người chài lưới đánh bắt cá trên sông kiếm sống

c. Kết bài

Tình cảm của em dành cho dòng sông Hương

I. Mở bài:

Giới thiệu sông Hương xứ Huế.

Mỗi dòng sông sẽ mang một dáng vẻ khác nhau, trong rất nhiều dòng sông trên khắp cả nước, em thích nhất là dòng sông Hương xứ Huế.

II. Thân bài:

a. Tả bao quát dòng sông Hương:

Nhìn từ trên cao sông Hương như một tấm lụa đào mềm mại chảy trong lòng thành phố Huế mộng mơ.

Không biết rõ từ bao giờ đã có con sông này, em chỉ được nghe kể lại nó đã sống cùng lịch sử dân tộc hàng thế kỉ từ thời vua Hùng đến khi đất nước trong thời bình.

b. Tả chi tiết:

Buổi sáng khi ánh nắng tỏa xuống dòng sông như dát bạc ánh lên sắc chúng tôi thoảng có làn gió nhẹ thoảng qua, những con sóng lăn tăn nối tiếp nhau chạy xa tít tắt. Trưa về dòng sông lấp lánh ánh vàng. Trên sông lúc này thật nhộn nhịp. Những chiếc thuyền giăng buồm thả lưới bắt cá. Hai bên bờ sông là những hàng tre xanh ngắt và màu cỏ lá xanh biếc. Đêm về sông khoác lên mình màu đen huyền bí. Trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn xưa cũ của đất kinh kì. Trong khoảnh khắc ấy, tiếng đàn cất lên làm khung cảnh thêm thơ mộng. Nền âm nhạc cổ điển Huế – nhã nhạc cung đình Huế như được sinh thành từ dòng sông này.

Giữa dòng sông là chiếc cầu trắng nối hai bên bờ như vầng trăng non. Trên sông có bến đò hằng ngày đưa khách qua sông. Con sông ôm chúng em vào lòng như người mẹ đối với đàn con. Chúng em vui đùa hai bên dòng sông, các bà các mẹ tất bật mang thành quả của các bác các chú cả một ngày là mẻ cá đầy với nét mặt rạng rỡ.

Dòng sông cho em rất nhiều kỉ niệm sâu sắc. Lần đó khi em học lớp ba, em được bố em cho ra sông tập bơi. Lúc đầu được bố hướng dẫn và tập thử em vô cùng thích thú. Nhưng khi tự tập không cần phao bơi em hơi run chân tay bắt đầu co lại, em sợ cứ vùng vằng trên nước, em la lên gọi bố. Thật may bố đã tóm được lấy tay em. Cho đến tận bây giờ mỗi lần nhắc lại kỉ niệm ấy em lại thấy thích thú và cũng từ ấy em đã quyết tâm học bơi và đã biết bơi.

III. Kết bài:

Nêu tình cảm của em với dòng sông.

Em yêu dòng sông Hương như người mẹ hiền của em. Mỗi khi đi xa em vẫn nhớ dòng sông này, nhớ bản trường ca của rừng già hùng vĩ.

Mỗi lần đến với xứ Huế mộng mơ là em lại được chìm đắm trong vẻ đẹp cổ kính của nơi đây. Từ những đình lăng, những vườn cây, những ngọn đồi… Nhưng đẹp nhất và đáng nhớ nhất, vẫn là dòng sông Hương.

Sông Hương thì ai cũng biết, bởi nhắc tới Huế là nhắc đến dòng sông. Đây là một con sông lớn, chảy vút từ rừng núi đại ngàn, băng qua những trầm tích, uốn qua những ruộng đồng rồi mới về đến thành phố. Đây cũng gần như là đoạn gần cuối của con sông rồi. Thế nên nước trôi rất phẳng lặng. Khiến đôi lúc, em tưởng như là con sông đang đứng yên chứ không có chảy nữa. Lòng sông rộng và sâu, bốn mùa đong đầy, như tình cảm chan chứa của những người con xứ Huế. Nước sông Hương xanh thẳm như là bầu trời mùa thu. Mỗi khi có gió nhẹ lướt qua, mặt hồ lại gợn sóng lăn tăn như muôn ngàn vảy cá. Ban ngày, trên dòng sông là những chiếc tàu thuyền lớn chở hàng tấp nập ngược xuôi. Ồn ã mà hòa vào thành phố nhộn nhịp. Nhưng khi đêm về, dòng sông như trở về là dòng sông của mấy trăm năm trước, với những chiếc thuyền rồng, với những giai điệu nhã nhạc cung đình, với những điệu hò từ xa xưa. Hai bên bờ sông là những ngôi làng nhỏ, những vạt cây xanh biếc. Đó là những vách ngăn để giữ dòng sông yên bình lặng lẽ khỏi phố thị ồn ào.

Em yêu dòng sông Hương, như em yêu quý con người và mảnh đất Huế vậy. Em mong rằng, dù xã hội ngày càng phát triển, thì dòng sông ấy vẫn sẽ giữ mãi được vẻ đẹp bình yên của mình.

Là một người con sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Huế thân thương. Em yêu quý nơi đây từ từng nhành cây đến ngọn cỏ, từng con đường đến ngôi nhà. Và tất nhiên là cả dòng sông Hương mỹ lệ.

Sông Hương là một dòng sông nổi tiếng mà thật khó để tìm thấy ai không biết đến nó cả. Từ lâu, dòng sông này đã đi vào thơ ca nhạc họa, khiến các thế hệ thi sĩ tốn không biết bao nhiêu là giấy mực. Đơn giản, bởi dòng sông ấy quá xinh đẹp và thơ mộng. Theo lời bà kể, dòng sông Hương là một con sông rất dài. Nó đi từ sơn cước hoang vu về đến ruộng lúa yên bình, ngang qua thành phố sầm uất rồi mới chảy ra đến biển. Em chỉ mới được nhìn ngắm và say mê với khúc sông ngang qua phố Huế, nhưng chỉ thế cũng đủ để ngất ngây.

Khúc sông ấy rộng lắm, không rõ là bao nhiêu mét, nhưng vào những buổi mờ sương thì bờ sông bên kia sẽ chỉ còn là tàn ảnh. Nước sông Hương ở đây trôi chậm, lững lờ, dịu dàng như người con gái Huế. Nhiều lúc tưởng chừng như dòng sông ấy chẳng trôi bao giờ. Những khi gió nhẹ lướt qua mặt hồ, gợn lên từng bước sóng lăn tăn như muôn nghìn ô kẻ nhỏ. Nước sông hương không có màu sắc cụ thể mà thay đổi luân phiên trong ngày. Lúc sáng sớm thì màu xanh thẫm ánh đỏ của bình minh. Lúc trưa thì lâng lâng màu xanh ngọc bích, trong suốt. Lúc chiều tà thì pha thêm ánh vàng của hoàng hôn. Khi đêm tối, lại trở về màu đen huyền bí, dát thêm những ánh bàng bạc của trăng khuya.

Sông Hương yên bình và lặng lẽ chảy qua giữa thành phố Huế đem đến cho nơi đây những mộng mơ. Biết bao du khách từ xa đến chỉ để được ngắm nhìn vẻ đẹp mĩ miều của nơi đây. Đứng trên cây cầu bắc ngang qua, mà ngắm dòng nước uyển chuyển dưới chân mình. Và nếu mà có thể nán lại đến khi đêm xuống, ấy mới là khi sông Hương đẹp nhất. Lúc ấy, dòng sông như là một nguồn sáng lấp lánh khổng lồ, lênh đênh với biết bao thuyền rồng trên mặt nước. Ở đó, có những người ca nữ cất lên những bài dạ cổ, rồi cả những khúc nhã nhạc cung đình ngày xưa nữa. Chao ôi mà xuyến xao. Nhắm mắt lại, lắng nghe từng câu ca, làn điệu, cảm nhận làn gió mang hơi lạnh từ dưới sông lên, mơ màng trong ánh nến mập mờ. Dễ tưởng như ta đang ở trên sông Hương của mấy năm kia.

Ngày nay, cùng với sự thay đổi của Huế, sông Hương cũng đổi thay. Nó cũng dần ồn ã hơn, tấp nập hơn với bao chuyến tàu và người qua kẻ lại. Nhưng dù thế, sông Hương vẫn giữ mãi được những nét đẹp mộc mạc, nguyên sơ của những thuở đầu. Chân chất và dịu dàng như con người Huế xưa.

Nhắc đến Huế, có lẽ người ta sẽ nhớ ngay đến một sông Hương dịu dàng, nữ tính mà trầm mặc trong lòng vùng đất cố đô. Em vẫn còn nhớ lần đi tham quan Huế năm ngoái, bản thân được tận mắt ngắm nhìn và cảm nhận dòng sông xứ mộng mơ.

Sông Hương là con sông lớn chảy giữa lòng thành phố Huế, nổi tiếng với vẻ đẹp nên thơ, hữu tình. Sông được hợp thành từ hai con sông Tả Trạch và Hữu Trạch. Nhìn bao quát, sông Hương như một dải lụa mềm mại vắt ngang qua khu vườn Vĩ Dạ với những thảm cỏ xanh tươi, quàng lên ngôi chùa Thiên Mụ cổ kính, ôm lấy sông Bạch Yến để lãng đãng phiêu du cùng gió mây.

Nước sông Hương xanh ngắt một màu ngọc bích. Mặt hồ trong in cảnh mây trời. Những gợn sóng nhỏ lăn tăn cứ lần lượt nối đuôi nhau như chơi trò đuổi bắt, dạt vào bờ rồi lại tiến ra xa. Dọc hai bờ sông là những thành quách rêu phong, những phố xá cổ kính, những vườn cây xanh mướt, những chùa tháp trầm mặc,… bóng lồng bóng in xuống mặt nước phản chiếu lung linh làm cho dòng sông đã yêu kiều càng trở nên hữu tình. Nổi bật trên nền xanh của dòng sông Hương là cây cầu Tràng Tiền duyên dáng cong cong như vành trăng non. Cây cầu đỏ tươi, mềm mại như một sợi chỉ đỏ nối đôi bờ lại gần nhau hơn. Đứng trước dòng sông Hương yên bình, em như nghe thấy mùi vị và hương thơm của muôn vàn cỏ cây hoa lá thảo mộc nhiệt đới, tất cả nên mùi thơm ngát hương đặc trưng cho con sông.

Sông Hương đẹp, ở mỗi thời điểm khác nhau trong ngày, sông lại mang những vẻ đẹp khác. Ban ngày, sông Hương mang vẻ đẹp bình yên, thơ mộng. Dòng sông xanh màu ngọc bích, trong vắt như chiếc gương trong phản chiếu quang cảnh thành phố dưới mặt nước êm ả và lung linh dưới ánh nắng mặt trời lấp lánh. Khi hoàng hôn buông xuống, sông Hương như được thay tấm áo mới, sông khoác lên mình tấm áo màu vàng cam ấm áp ánh hoàng hôn. Không gian như chìm sâu vào yên vắng. Và khi màn đêm buông xuống bao phủ dòng sông, trong đêm tối tĩnh mịch, giọng hò Huế nào lại được vang lên ở mỗi khoang thuyền lững thững trôi. Cầu Tràng Tiền lên đèn, toả ra những ánh đèn lung linh rực rỡ sắc màu, chiếu sáng cả một vùng sông.

Sông Hương đã gắn bó mật thiết với với đời sống văn hoá của người Huế nơi đây. Các hình thức sinh hoạt văn hoá truyền thống như nghe ca Huế trên sông, đua thuyền, thả đèn, cũng chính trên dòng sông này mà được khởi xướng. Em thích những buổi tối yên lành, trăng thanh gió mát, lênh đênh trên con thuyền, nghe những khúc dân ca Huế, nghe những nhã nhạc cung đình Huế, những khúc Nam Ai, Nam Bình da diết như gọi về cả một miền tâm hồn Huế chân tình, thắm thiết, nặng sâu.

Sông Hương trở thành biểu tượng của Huế có lẽ bởi lẽ đó. Sông Hương đẹp trong mắt em, đẹp trong mắt du khách trong và ngoài nước. Và em chợt băn khoăn sông Hương phải chăng chính là điệu tâm hồn xứ Huế, tâm hồn con người Huế rất mực dịu dàng, thiết tha?

Xuân đến, nhà nhà đều tất bật với việc mua sắm Tết. Dòng sông Hương thơ mộng của quê hương tôi cũng hòa vào nhịp sống rộn ràng đó.

Một buổi sớm đầu xuân, tiết trời se se lạnh, sông Hương đang còn nằm ngái ngủ giữa phố phường sôi động. Dòng sông bình lặng trôi, làm gương cho những cô mây, chị gió soi mình. Mặt sông khoác một màu áo xanh lam, điểm thêm vài sắc màu sặc sỡ của những bông hoa mới nở. Bên trên dòng sông là bầu trời xanh và cao vút. Bầu trời sáng nay xanh và cao hơn vì được gội rửa bởi cơn mưa bụi tối hôm qua. Sông Hương trầm ngâm nhìn phố xá bằng đôi mắt trong sáng. Mọi ngôi nhà trên phố đều được trang trí bởi một màu đỏ thắm tươi tắn của ngói mới, của những câu đối hay và của màu áo mới của những cậu bé, cô bé tinh nghịch. Mỉm cười, dòng sông sung sướng nhìn cuộc sống thanh bình phía trên. Từng gợn sóng nhỏ trên mặt sông cũng nhảy nhót vui vẻ hẳn lên. Ngay cả những chú cá dưới sông cũng bơi lướt, nhảy múa tưng bừng. Hai bên sông, hàng phượng già đứng nghiêng mình in bóng dưới dòng sông. Từng chiếc lá tươi xanh ve vẩy đùa với gió. Hàng cỏ lim dim ngủ đang khẽ ấp ủ vài hạt sương trong trắng. Những tia nắng nhỏ nhắn chạy nhảy, nô đùa vui vẻ trên mặt sông. Trời trưa dần, sông Hương được sưởi ấm bởi ánh nắng ấm áp của bác mặt trời. Dòng sông thay bộ áo xanh thẫm nổi bật. Phố xá bỗng trở nên yên tĩnh, trầm lặng. Hóa ra mọi người đang nghỉ trưa. Sông Hương cũng khép đôi mắt to tròn ngủ giữa sự bình yên của ban trưa. Chỉ trong chớp mắt, bác mặt trời đã chuyển dần về hướng tây. Hoàng hôn từ từ lướt qua. Và tia nắng vương vấn hôn nhẹ vào đám cỏ non rồi theo nắng chiều tàn dần tan vào không gian vô tận. Dòng sông nhanh khoác lên mình tấm áo cam vàng dịu mắt. Mọi thứ chìm vào một màu tím nhạt đặc trưng của Huế. Đêm xuống, sông Hương trở nên lộng lẫy trong bộ váy dạ hội đen pha thêm ánh đèn đủ màu sắc. Mọi người lại kéo nhau đi dạo phố, tập thể dục và ngắm cảnh. Từng ánh đèn ven bờ sông lần lượt được thắp lên. Sông hương lại nghỉ ngơi sau một ngày vui chơi.

Ôi, dòng sông mới đẹp làm sao! Dù mai này có đi đâu xa tôi sẽ không bao giờ quên sông Hương, dòng sông đã cho tôi nhiều kỉ niệm đáng nhớ.

Từ xưa đến nay, nhắc đến quê hương là nhắc đến cây đa, bến nước, sân đình, nhắc đến “dòng sông lấp lánh “, dòng sông mang linh hồn của cả một vùng đất chôn rau cắt rốn. Xứ Huế quê em có con sông Hương lặng lẽ uốn quanh, quyến luyến và dịu dàng cùng thành phố.

Dòng sông Hương quê em đẹp và nhẹ nhàng như cái tên của nó vậy, con sông mềm mại uốn quanh Huế thương tựa chiếc khăn hờ hững vắt ngang vai người tình muôn thuở. Các dòng sông khác thường chảy qua nhiều tỉnh thành, riêng dòng sông Hương, chỉ thuộc về riêng Huế, bởi vậy mà người ta hay gọi sông Hương là “dòng sông chung thủy”. Dòng sông Hương, nước chảy khi dữ dội cuộn sóng, khi lại hiền hòa như một bản tình ca êm đềm. Sông Hương trầm mặc, cổ kính, có nét gì đó thật gần gũi và hoài niệm. Và hai bên bờ sông, Huế cũng hiện lên cổ kính và đẹp đẽ như thế. Em rất thích đứng trên cây cầu Trường Tiền, lặng ngắm sông Hương, khúc này không hiểu sao sông luôn chảy hiền hòa và chậm rãi. Sáng sớm, nắng từ trên cao hắt xuống lòng sông, lấp lánh dòng nước, in bóng những hàng cây bên bờ, in bóng cả bầu trời trong xanh, cao vời vợi. Chiều, sông Hương hóa mình vào một vẻ đẹp thầm lặng và kín đáo giữa thành phố như người con gái Huế trong tà áo dài tím, e thẹn, dịu dàng. Hoàng hôn trên sông Hương thực mới đẹp lạ kỳ, những vệt màu phía đằng Tây vàng rực, đỏ cháy, ấy vậy mà gam màu ấy trông vẫn êm đềm, trầm tĩnh và từ từ hòa vào bóng tối. Đêm, trên sông Hương, thuyền bè đi lại, thắp lên những cây đèn nến hình đóa sen, những khúc nhã nhạc cung đình cứ vang lên đằm thắm trên dòng sông quê như vậy, nằm dài trên thuyền mà khẽ đưa tay chạm vào dòng nước sông, thấy như mình đã vừa chạm lấy người chị gái đi xa trở về. Dòng sông Hương, dòng sông trữ tình, dòng sông kỷ niệm, cũng là dòng sông lịch sử, cùng dân tộc ta trải qua bao hành trình từ khi nó còn là một dòng sông xa lạ. Người ta mến sông Hương cũng bằng một tình yêu chung thủy và chân thành, tựa như chính những gì nó đã gửi vào Huế.

Em rất yêu dòng sông Hương quê em. Đây là dòng sông chất chứa bao kỷ niệm thời thơ ấu, dòng sông mang linh hồn của xứ Huế, là biểu tượng đẹp đẽ cho một thành phố hiền hòa.

Hè vừa rồi em cùng gia đình có chuyến đi du lịch ở Huế. Đây là chuyến du lịch đầy ấn tượng mà em từng đi. Ở Huế, em được tham quan đại nội, lăng của các vị vua xưa, đến nhà vườn An Hiên, thăm núi Ngự. Tất cả đều mang dấu ấn của một vùng đất kinh kì cổ kính và trầm mặc, mỗi một nơi em đến ở đây đều đẹp, đều thơ, nhưng em thích nhất là được ngắm nhìn dòng sông Hương chạy qua trung tâm thành phố.

Đứng trên cầu Trường Tiền bắc ngang dòng sông, em thu vào tầm mắt mình một dòng sông rộng mênh mang, duyên dáng và uốn lượn đầy nữ tính. Buổi sớm ban mai, trong bầu không khí thanh bình tuyệt diệu, dòng sông gợn những con sóng lăn tăn nhẹ nhàng như chào đón mọi người bắt đầu một ngày mới. Mặt sông xanh biếc, nước trong veo và tươi mát. Thấp thoáng trên sông là những chiếc thuyền nhỏ của người dân chài cũng đang thức giấc, chuẩn bị cho một ngày lao động mới. Màn sương giăng giắc trên không trung càng tô điểm cho vẻ huyền diệu, thơ mộng của sông Hương. Bên bờ sông là những cụ già đang rảo bước đi bộ tập thể dục buổi sáng, một vài nhóm anh chị thanh niên cũng dậy thật sớm để ra công viên tận hưởng bầu không khí trong lành. Sông Hương vào buổi sớm mai bình yên đến lạ.

Buổi ban trưa, khi những tia nắng mặt trời nô nức nhau tới Huế ngao du, sông Hương lại khoác lên mình màu áo lung linh và kiều diễm. Ánh nắng vàng tươi xuyên qua từng dòng nước tạo nên vẻ lộng lẫy cho dòng sông. Sóng nước cũng vội vã hơn trong từng đợt gió lùa. Mặt sông in bóng hàng phượng đỏ rực, in bóng những dãy nhà cao tầng hai bờ, những chiếc cầu bắc ngang và bóng những vị khách vừa ngồi nhâm nhi nước chè vừa hóng mát. Dưới mặt sông lúc này như đang có một cõi trần gian vậy, có cỏ cây, có nhà cửa và cả bóng con người.

Chiều đến, khi ông mặt trời dần thu mình lại cũng là lúc sông Hương trầm mặc nhất. Nàng Hương lúc này khoác cho mình chiếc áo của ánh vàng hoàng hôn, dòng sông tĩnh lặng mà ấm áp lạ thường. Trên cầu Trường Tiền, có mấy đôi tình nhân, một vài vị du khách cũng tranh thủ khoảnh khắc đẹp này để lưu giữ cho mình những bức ảnh kỉ niệm khi đến đây.

Với em, nếu được chọn khoảnh khắc đẹp nhất của sông Hương em sẽ chọn vẻ đẹp của dòng sông khi đêm xuống. Trên những ánh đèn lung linh, trên những con phố đông vui và nhộn nhịp, sông Hương vẫn ở đó, một mình mang đến cho Huế một vẻ đẹp rất riêng, nó không quá náo nhiệt ồn ào, cũng không quá trầm mặc. Sông Hương hoà vào lòng thành phố một nét đẹp vừa văn minh, hiện đại lại không mất đi sự cổ kính vốn có. Trên dòng sông lúc này, em nghe được tiếng vọng câu hò Huế âm vang nơi những khoang thuyền chở khách ngao du vẻ đẹp thiên nhiên Huế khi đêm về. Cầu Trường Tiền được thắp sáng với những ánh đèn rực rỡ màu sắc càng làm cho dòng sông thêm toả sáng.

Em đã từng đọc rất nhiều bài thơ viết về Huế, viết về sông Hương rất hay, và khi tận mắt chứng kiến để cảm nhận hết những vẻ đẹp của dòng sông này em lại càng yêu mến hơn nhiều. Bố em bảo dòng sông này đã cùng với nhân dân Huế trải qua bao thăng trầm của dân tộc vì vậy nó như một chứng nhân lịch sử của Huế, của đất Việt vậy. Em cảm thấy thật tự hào khi nghe điều đó, sông Hương đã cùng con người Huế làm nên một dấu ấn của vùng đất huyền thoại, làm nên vẻ đẹp văn hoá dân tộc.

Em thầm cảm ơn mẹ thiên nhiên đã mang đến cho con người những công trình tuyệt diệu. Yêu và nhớ sông Hương trữ tình, thơ mộng biết bao. Mong một ngày không xa, em sẽ có dịp trở lại Huế để ngắm nhìn và khám phá nhiều hơn về dòng sông ấy.

Em là một người con của xứ Huế thơ mộng, em luôn tự hào về quê hương mình. Quê hương em không chỉ có những con người thân thiện, giàu tình nghĩa mà còn có vô vàn những cảnh đẹp. Đó là cầu Trường Tiền tư lự, là núi Ngự cao xanh, là đồi Thiên An trầm mặc,…và không thể không nhắc đến dòng sông Hương thơ mộng.

Được sinh ra và lớn lên trong nguồn sữa mẹ thiên nhiên ban tặng, em luôn yêu quý, luôn trân trọng từng khoảnh khắc được ngắm nhìn và cảm nhận vẻ đẹp cảnh quan quê hương mình. Với em, dòng sông Hương không chỉ là niềm thương, niềm tự hào mà nó còn là người bạn tri kỉ, tâm tình cùng em.

Mỗi mùa, sông Hương mang một vẻ đẹp riêng. Sông Hương khi xuân về căng tràn nhựa sống, nước trong xanh màu biếc, sóng gợn những đường công mỹ miều mà vô cùng uyển chuyển. Trên mặt nước có những bông lục bình tím trôi lênh đênh càng tô điểm cho sức sống của dòng sông. Hai bên bờ là những hàng cây chồi non bung nở mơn mởn, tiếng chim chiền chiện hót trên không trung tạo nên vẻ đẹp vừa sống động vừa rực rỡ sắc màu. Sông Hương vào độ xuân về tựa nàng thiếu nữ tuổi đôi mươi, vừa tươi mới rực rỡ lại vừa có chút gì e thẹn mà đầy duyên dáng. Bởi thế mà nhà thơ Thanh Hải cũng đã từng rung động trước khoảnh khắc tuyệt vời ấy của dòng sông mà viết nên đôi câu thơ tình tự:

Khi những giọt xuân dần nhường chỗ cho nắng hạ, sông Hương đầy quyến rũ bởi màu áo thiên thanh của làn nước. Hai bên bờ, những hàng cây đổ bóng, soi mình khỏe vẻ yêu kiều. Hàng phượng đỏ rực hòa trong ánh tím của những bông bằng lăng xinh đẹp tạo nên một dòng sông rực rỡ sắc màu. Cái nắng hè oi ả không làm mất đi vị tươi mát của sông Hương trong từng giọt nước mà trái lại, sông Hương càng có dịp để khoe vẻ trong lành của mình trong làn nước. Mùa hè mà được ngồi trên chiếc ghế đá, dưới bóng cây bên bờ là tuyệt nhất, hơi nước mát lành của đi những nóng nực của thời tiết. Ngồi đó, ta có thể nhâm nhi một cuốn sách hay, làm một bài toán còn đang dở hay thủ thỉ trò chuyện cùng dòng sông cũng đều rất gần gũi và thoải mái vô cùng.

Khi những làn sương chùng chình đi qua từng ngõ phố, dòng sông, cũng là lúc thu về. Thu đến, sông Hương như chậm hơn, chẳng hề vội vã như ngày hạ, sông Hương lững lờ trôi một cách đầy thong thả, êm đềm. Lá cây bên bờ ngả vàng, những bông bằng lăng cuối mùa còn vương lại rơi tự do chạm khẽ vào làn nước đong đưa. Chiếc thuyền chài cũng đang cùng người lao động miệt mài làm việc, gợn sóng vỗ vào mạn thuyền như thúc giục, cỗ vũ con người hăng say đánh cá. Những chiều thu êm đềm, trên chiếc cầu gỗ lim bé nhỏ, thấp thoáng bóng dáng những chị gái nữ sinh mang trên mình chiếc áo dài tím Huế dạo bước, chụp những bức ảnh lưu giữ làm kỉ niệm cho mình.

Khi cái lạnh của mùa đông tràn về, sông Hương cũng đổi khác. Dường như dòng sông trở nên cổ kính và trầm mặc hơn. Những đêm đông, dạo trên con thuyền ngắm nhìn cảnh sắc Huế khi đêm về mới cảm nhận hết vẻ đẹp nơi đây. Ánh trăng vàng đôi chiếu xuống dòng nước, đèn điện của phố xá tạo nên vẻ lung linh của dòng sông. Đâu đó, nghe tiếng vọng của những bài chòi, những câu hò Huế, tiếng nhã nhạc cung đình ta thấy lòng mình thêm an nhiên, yên bình đến lạ.

Sông Hương cũng như con người Huế vậy, trầm mặc, dịu dàng, thủy chung , ân tình. Chính những điều ấy đã làm nên nét bản sắc riêng mà chỉ có dòng sông này mới có

Bao kỉ niệm bên con sông quê hương khiến em nhớ mãi. Đó là những lần bị mẹ trách mắng, em lại chạy ra tâm sự cùng con sông. Đó là những lần cùng cô bạn thân ra sông đọc sách, hóng mát. Đó còn là những lần cùng nội ngắm nhìn dòng sông, được nghe nội kể về những chiến công oanh liệt của sông Hương, tất cả đều thật đẹp, thật quý và đáng trân trọng biết bao.

Sông Hương cũng như con người Huế vậy, trầm mặc, dịu dàng, thủy chung , ân tình. Chính những điều ấy đã làm nên nét bản sắc riêng mà chỉ có dòng sông này mới có. Em thầm hứa học thật giỏi, sau này sẽ làm một hoạ sĩ tài ba để vẽ nên những công trình nghệ thuật bất hủ về dòng sông này. Mang dòng sông Hương giới thiệu đến bạn bè thế giới.

Mỗi khi đọc những vần thơ mơ màng viết về dòng sông Hương của mảnh đất kinh kỳ xứ Huế, em lại không thể nào quên được những kỉ niệm của ngày xưa. Dù đã xa Huế 4 năm kể từ ngày chuyển vào Sài Gòn nhộn nhịp, những kí ức bên dòng sông Hương dịu dàng và thơ mộng luôn là điều em trân quý. Em yêu dòng sông quê nội biết bao.

Sông Hương chảy vào lòng thành phố đầy êm dịu, vỗ về bến bờ như người mẹ hiền âu yếm con thơ. Dòng sông uốn lượn đôi bờ, mềm mại và mượt mà như tấm lụa đào xinh đẹp. Chỉ ngắm nhìn dòng sông Hương dạt dào cũng thấy lòng mình đủ an nhiên.

Sông Hương đổi thay cảnh sắc theo mùa. Vào mùa xuân, dòng Hương như một nàng thiếu nữ căng tràn nhựa sống. Nước sông xanh biếc, sóng vỗ rì rào như khúc tình tự. Hai bờ, cây cối nở những lộc non, hoa thắm. Cánh lục bình tím đua nhau trôi dạt lênh đênh giữ những làn nước trong lành. Khung cảnh thật thi vị biết bao. Màu trời xanh thẳm trong nắng xuân rực rỡ, tiếng chim hót trên cành cao góp vào bản nhạc xuân đầy sôi động. Ngày xuân, đến với sông Hương sẽ được hoà quyện vào niềm vui và hạnh phúc tròn đầy, cảnh thiên nhiên tươi mới hứa hẹn một năm mới đầy hy vọng, may mắn và thành công.

Khi hè về, cái nắng hanh hao của tiết trời tháng 7 không khiến nàng Hương khó chịu mà trái lại nàng được dịp khoe làn nước mát lành của mình. Nước sông vào hè xanh hơn, đong đầy hơn, sóng nước dạt dào từng đợt. Những hàng phượng đỏ thắm bên bờ hòa trong sắc xanh của nước đầy đẹp đẽ. Mấy chị bằng lăng cũng không chịu nép mình, hé nở khoe sắc tím dịu dàng. Giữa dòng, những người dân chài vẫn miệt mài với công việc bắt tôm cá, vào hè cũng là điều kiện thuận lợi để sông mang nhiều cá tôm cho người lao động. Những buổi chiều tối, sông Hương khoác lên mình chiếc áo màu hoàng hôn cực kì xinh đẹp, dù thoáng chút buồn nhưng là nét buồn của màu cổ kính, một nét buồn đậm đà mang phong vị độc đáo xứ Huế.

Sông Hương thơ mộng nhất có lẽ là khi thu đến. Độ tháng tám về, nàng Hương như một cô gái mới lớn, vừa ngập ngừng, e ngại lại vừa khát khao được khám phá chính mình, khám phá cuộc đời. Buổi sáng mùa thu, khi những màn sương chậm rãi đang tan dần, sông Hương đượm vẻ huyền ảo, mặt sông lúc này trong kì bí thôi thúc sự khám phá của con người. Những chiều mùa thu, bao chị nữ sinh mang trên mình chiếc dài duyên dáng dạo bước trên cầu Trường Tiền, tranh thủ ghi lại những bức hình đẹp. Những chiếc lá vàng bắt đầu rụng cành, trôi lơ đãng mơ màng trong dòng nước. Sông Hương khi thu về mạng vẻ đẹp cổ tích của một miền huyền thoại, gợi nhớ, gợi thương biết bao nhiêu.

Những ngày đông, sông Hương mang vẻ trầm mặc, suy tư. Mặt sông như thu mình lại, chút gì đó còn vấn vương vị nắng ấm ngày thu. Cơn mưa đông bất chợt đến càng làm cho dòng sông đượm màu buồn, hàng cây bên bờ cũng im lìm, trơ trọi lá cành đang gồng mình chống cái lạnh giá của từng đợt gió mùa. Có lẽ, đông về là lúc mà em cảm nhận được sự kiên cường và mạnh mẽ của dòng sông nhất.

Em nhớ nhất là những lần dạo mát cùng gia đình khi đêm về bên dòng sông Hương. Ánh trăng đêm soi mình chải chuốt nhuộm mình trên dòng sông. Ánh điện phố xá lung linh trong làn nước, tiếng sóng vỗ nhịp nhàng nơi những mạn thuyền xa. Làn nước mát trong theo gió mang lại cho con người hơi mát thiên nhiên, nhẹ nhàng, thư thái. Xa xa vọng lại làn điệu nhã nhạc cung đình say đắm, đê mê. Bên bờ, là những vị khách thong dong vừa nhâm nhi li cà phê vừa ngắm cảnh, đâu đó, có vài cặp tình nhân tay trong tay dạo phố, thật lãng mạn biết bao.

Em yêu quý và nhớ thương dòng sông Hương quê mình. Em chỉ ước được một lần về thăm lại Huế để được ngắm nhìn dòng Hương mát trong của ngày xưa. Sông Hương ơi! Nhớ cậu thật nhiều!

Đất nước Việt Nam có mạng lưới sông ngòi dày đặc với rất nhiều các con sông nổi tiếng như sông Hồng, sông Mã, sông Tiền… nhưng nếu nói đến dòng sông mang vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng thì phải kể đến sông Hương.

Sông Hương bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn, chảy qua các tỉnh thuộc Thừa Thiên – Huế mang theo hương thơm của những cánh rừng già cùng những thảo nguyên rộng lớn. Từ xa nhìn lại, dòng sông Hương giống như một dải lụa đào mềm mại vắt ngang qua thành phố Huế. Sông Hương được mệnh danh là dòng sông thơ mộng và trữ tình, quả thật là vậy bởi bốn mùa trong năm, mùa nào sông Hương cũng mang một vẻ đẹp khác biệt.

Đông đến, bầu trời mang một màu xám nhạt, trên mặt sông thấp thoáng những làn khói nhẹ nhàng bay lượn. Sông Hương khoác lên mình bộ áo màu tro cổ kính, hòa mình vào làn mưa bụi, lắng nghe những âm thanh chuyển mình của vạn vật chuẩn bị hồi sinh. Xuân về, sông Hương thay chiếc áo màu tro xám cũ, thay vào đó là chiếc áo màu hồng đào dịu dàng, thơ mộng. Trong không khí đón xuân tươi vui, hạnh phúc, sông Hương dường như cũng trở thành một cô thiếu nữ e thẹn.

Hè đến, sông Hương lại điệu đà khoác lên mình chiếc áo màu thiên thanh xinh đẹp, lơ đãng ngắm nhìn những cây hoa phượng cùng bằng lăng nở tím cả một vùng trời. Cảnh vật hai bên bờ lúc này mới thơ mộng làm sao! Những cây hoa bằng lăng nở tím thẫm xung quanh sông, thỉnh thoảng lại thả rơi những cánh hoa như những chú bướm xuống làm mặt sông lăn tăn gợn sóng. Ánh nắng mặt trời vàng óng chiếu xuống dòng sông thơ mộng làm nó lấp lánh như được dát vàng. Mùa hè qua đi nhường chỗ cho mùa thu bước đến. Những buổi chiều mùa thu chúng ta rất dễ bắt gặp hình ảnh những cô sinh viên trong bộ áo dài trắng cùng những chiếc nón dạo bước xung quanh bờ sông. Trong ánh hoàng hôn rực rỡ, hình ảnh những cô gái cứ như thục như mơ làm say đắm biết bao người. Mùa này, lá của những cây bóng mát bao quanh hồ đã bắt đầu chuyển sang màu vàng cam tuyệt đẹp. Những chiều mùa thu đứng trên cây cầu bắc ngang sông Hương mà nhìn xuống mặt nước lấp lánh ánh hoàng hôn chúng ta sẽ cảm nhận được rõ hơn vẻ đẹp của song sông này. Bạn đã từng một lần ngồi trên chiếc thuyền Rồng lững lờ trôi mà lắng nghe những bài dân ca đậm đà bản sắc do những nhạc công trẻ tuổi biểu diễn, hay lặng lẽ ngắm nhìn ánh trăng bàng bạc trên mặt nước sóng sánh? Em chắc chắn bất cứ ai cũng sẽ đắm chìm trong cái không gian thơ mộng khoáng đạt ấy, nghe văng vẳng từ xa tiếng chuông chùa Thiên Mụ hoặc có thể lơ đãng ngắm ngọn tháp Phước Duyên. Dòng sông Hương ở Huế được mệnh danh là dòng sông của thơ ca nhạc họa, là nguồn cảm hứng cho các họa sĩ, nhà văn, nhà thơ sáng tác ra những bài thơ, bài ca ca ngợi vẻ đẹp nơi đây.

Sông Hương là con sông đẹp và vô cùng thơ mộng, là dòng sông mà ai đã từng một lần chiêm ngưỡng thì mãi mãi sẽ không bao giờ có thể quên. Em cũng vậy, hình ảnh dòng sông Hương cùng vẻ đẹp của nó vẫn luôn in sâu trong tâm trí em từ bây giờ cho đến mãi về sau.

Nếu như nhắc đến sông Xen nhớ đến Paris, sông Đa Nuýp nhớ đến Budapest thì khi nhắc đến sông Hương người ta nhớ đến thành phố Huế thơ mộng. Con sông ấy đã gắn liền với cuộc sống con người xứ Huế biết bao thế kỉ, trở thành biểu tượng đẹp đẽ của mảnh đất cố đô.

Không giống với người con gái miền sơn tước sông Đà nhanh, mạnh, đầy thách thức, sông Hương tựa như một nàng thiếu nữ hiền dịu, xinh đẹp, đầy quý phái. Người con gái ấy đã được thiên nhiên ưu ái ban tặng những đường cong mềm mại, tuyệt đẹp. Cả con sông dài tựa như một áng tóc dài, mềm mượt cứ tuôn dài ôm lấy những đền đài lăng tẩm cổ kính, uốn lượn qua mảnh đất kinh kỳ xa xưa, càng tô đậm thêm cho vẻ đẹp của xứ Huế mộng mơ.

Tựa như một nàng công chúa xinh đẹp, sông Hương cũng thật biết tô điểm, khoác lên mình những bộ cánh lung linh rực rỡ “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”. Buổi sớm, sông Hương say giấc nồng trong chiếc chăn sương mỏng manh, bàng bạc. Nhưng chỉ khi những tia nắng sớm đầu tiên xuất hiện, người con gái ấy đã vội vàng lật từng tấm chăn, chải chuốt, diện cho mình bộ cánh màu xanh trong veo đầy xinh đẹp. Nước sông trong xanh, lấp lánh ánh nắng mặt trời đôi khi còn thấy những chú cá sẵn sỡ bơi lượn, uốn mình trong dòng nước ngọt mát.

Nếu như buổi sáng sông Hương căng tràn sức sống thì buổi chiều sông Hương lại mang một dáng vẻ duyên dáng, đằm thắm đến mê hồn. Khoác lên mình chiếc áo màu vàng cam hòa vào sắc tím của không gian khiến cho sông Hương phảng phất nét buồn vương. Xa xa những làn khói lam chiều bảng lảng trên những nếp nhà đơn sơ, giản dị. Không gian thơ mộng, tĩnh lặng, man mác buồn cảm tưởng như từng phút giây của thời gian đang ngừng trôi. Có lẽ vì vậy mà nơi đây cũng còn được gọi là thành phố buồn. Bóng chiều dần nhạt phai nhường chỗ cho màn đêm buông xuống, phủ trùm lên con sông. Con sông không vì thế mà mất đi vẻ đẹp kiều diễm của mình. Ánh đèn rực rỡ về đêm hòa cùng ánh sao và trăng điểm xuyết khiến cho con sông bừng lên rạng rỡ. Góp phần điểm tô còn là tiếng hát, điệu hò trong trẻo, dịu êm của những người lái đò nơi đây. Tất cả đã làm nên một bức tranh đẹp, đầy cuốn hút, hấp dẫn. Đặc biệt đến với sông Hương cũng là cách để người ta bước chậm lại, hòa vào nhịp sống chậm rãi, khoan thai. Sông Hương chầm chậm trôi qua không vồn vã, gấp gáp. Đi thuyền trên sông, lòng con người ta cũng vì thế mà lắng lại, cảm nhận, lắng nghe thanh âm của thiên nhiên đất trời.

Đâu phải tự nhiên sông Hương trở thành biểu tượng của mảnh đất cố đô. Sông Hương đã gắn bó, ăn ở đời đời kiếp kiếp với những con người nơi đây. Phù sa nặng hạt bồi đắp cho đất đai màu mỡ, cây trái tốt tươi. Cá tôm nặng thuyền chi chút cho cuộc sống hằng ngày. Con sông tựa như một người mẹ dịu dàng, tần tảo chăm lo cho đàn con của mình lớn khôn. Cũng từ sông Hương mà biết bao nét đẹp văn hóa ra đời, khiến cho mảnh đất Huế thêm đẹp đẽ, đắm say. Không những thế, sông Hương lặng lờ chảy cũng mang theo cả hồn cốt của người con gái Huế, xứ Huế dịu dàng, êm ái, thướt tha. Quả thật, đến với sông Hương người ta tựa như đi một chuỗi hành trình dài tìm về với cả lịch sử của mảnh đất Huế cổ kính.

Advertisement

Sông Hương đã trở thành một phần máu thịt của xứ Huế. Con sông đã trở thành một dấu ấn, một điểm tựa vững bền của quê hương trong lòng mỗi người con của mảnh đất nơi đây.

Vào dịp nghỉ hè vừa rồi, em được bố mẹ cho đến Huế để tham quan nơi đây. Ở đây thực sự rất đẹp với biết bao di tích lịch sử, kì quan thiên nhiên nổi tiếng như cố đô Huế, chùa Thiên Mụ, vườn quốc gia Bạch Mã… Nơi nào cũng đẹp cũng đáng để tham quan khám phá nhưng có lẽ em ấn tượng nhất là dòng sông Hương xứ Huế.

Từ xa nhìn lại, dòng sông như một dải lụa đào mềm mại vắt ngang qua thành phố Huế. Sông Hương nổi tiếng với vẻ đẹp nên thơ trữ tình. Mặt nước sông trong veo như một chiếc gương khổng lồ có thể nhìn rõ hình ảnh phản chiếu của mây trời. Ẩn dưới làn nước mát lành ấy là cả một thế giới thủy cung đầy sống động với biết bao các loài sinh vật như tôm, cá, cua,…Đứng bên bờ sông em có thể nhìn thấy rõ những chú cá tung tăng bơi lội trong nước trông rất đáng yêu. Bên bờ sông là những cây hoa bằng lăng tím và những cây phượng nở đỏ cả một góc trời. Bóng cây rủ xuống mặt nước trông như những cô thiếu nữ đang chải tóc soi gương để làm duyên. Em rất thích ngắm sông đặc biệt là khi hoàng hôn đến. Bởi khi ông mặt trời từ từ xuống núi thì cũng là lúc cả con sông như được khoác trên mình bộ áo mới màu vàng giáp bạc trông thật lộng lẫy và kiêu sa. Nhưng có lẽ sông Hương đẹp nhất, duyên dáng và lôi cuốn nhất phải là khi đêm đến. Khi bóng tối bắt đầu ngự trị muôn nơi cũng là lúc cả dòng sông trở nên yên ắng trầm mặc đến lạ. Nếu ai đã từng ngồi thuyền trên sông Hương để nghe nhã nhạc cung đình Huế thì có lẽ sẽ không bao giờ có thể quên được sự tha thiết, thấm đượm hồn huế trên con sông này. Đó đã trở thành một nét văn hóa vô cùng đặc sắc đối với người dân nơi đây và khách du lịch khi đến xứ Huế mộng mơ.

Em yêu con sông Hương này lắm. Có lẽ không biết tự bao giờ mà sông Hương đã trở thành biểu tượng cho vùng đất nơi đây, trở thành điệu hồn xứ Huế vừa thơ mộng, thắm thiết lại rất mực dịu dàng thiết tha và trầm mặc.

Huế trong trái tim mỗi người là điệu Nam ai, Nam bình đằm thắm, là tà áo dài tím phấp phới bay trên con đường mỗi buổi chiều. Huế trong trái tim tôi lại là dòng sông Hương ngọt ngào chảy lững lờ qua khắp thành phố, và đối với bản thân tôi, nhắc đến Huế phải là nhắc đến sông Hương, và sông Hương là linh hồn của vùng đất cố đô thuở nào.

Sông Hương chẳng chảy thắng. Có lẽ nó ưa cái vẻ vốn đã mềm mại, uyển chuyển của xứ Huế mộng mơ, nên nó uống một đường con thật tuyệt mĩ để vươn qua những dãy nhà, những con phố để rồi đổ ra biển xanh kia. Từ trên cao nhìn xuống, sông Hương như một tấm lụa đào mềm mại vắt qua dải đất của thành phố Huế. Tôi có dịp thăm Huế mấy lần và đã từng được đứng trên cầu Tràng Tiền mà ngắm nhìn cái dòng nước xanh biếc chảy dưới chân mình. Nước sông xanh trong như phản chiếu lại cả một vùng trời. Sông Hương khi về thành phố trở nên hiền hòa như một người con gái đẹp giữa vùng đất cố đô xinh đẹp và duyên dáng. Đứng trên cây cầu trắng mà trông xuống dưới, sông Hương chẳng khác gì một bức tranh in dấu những vẻ đẹp toàn mĩ nhất mà thành phố Huế mang trong mình.

Hai bên sông trồng đầy những cây phượng vĩ. Vào hè, hàng cây đỏ rực lên như hàng ngàn mâm xôi gấc in dấu xuống mặt hồ, khiến dòng nước xanh trong kia như nhuộm một màu đỏ chót. Những cánh phượng rơi xuống cứ lững lờ trôi theo dòng nước khiến sông Hương mang một vẻ đẹp gì đó vừa thơ mộng lại vừa mặn mà, đằm thắm. Những lớp sóng ở lòng sông thi nhau rượt đuổi tới tận chân trời. Trên sông, người dân chài đang cần mẫn giăng mắc từng lớp lưới, tiếng gõ vào mạn thuyền để đuổi cá như vang động cả một vùng trời. Thảng hoặc, người chài lưới ấy ngẫu hứng ca lên vài câu hò xứ Huế, khiến du khách cũng phải nán lại đôi chút mà thưởng thức cái điệu hò đặc biệt nơi vùng đất cố đô này.

Sông Hương về đêm lại mang một vẻ đẹp thật khác. Những ánh đèn lung linh in trên mặt nước càng khiến cho dòng sông mang một vẻ đẹp gì đấy thơ mộng lạ thường. Sông Hương về đêm tấp nập những con thuyền chở khách du lịch mà nghe những câu hò xứ Huế. Người ta nói rằng đến Huế mà không được nghe ca Huế trên sông Hương thì anh chưa từng được đặt chân vào xứ Huế. Thế mới nói rằng sông Hương là linh hồn của vùng đất này, nơi lưu giữ bao hương thơm của trăm ngàn loài hoa nơi xứ Huế, nơi chứng kiến từng đợt bom mà kẻ thù trút xuống khi chiến tranh đang hủy hoại đất nước nặng nề. Sông Hương trải qua bao thăng trầm cùng con người xứ Huế, bởi vậy nó được coi là biểu tượng sống của vùng đất cố đô đầy xinh đẹp này.

Sông Hương ghi dấu một ấn tượng đậm nét khó phai nhòa cho bất kì ai đã từng đặt chân đến đó. Say đắm trước cảnh đẹp sông Hương, con người ta lại càng thêm yêu xứ Huế, thêm yêu cảnh đẹp nơi quê hương đất nước mình.

Về với đất cố đô, là về với miền đất của sự tinh tế nhẹ nhàng mà duyên dáng của chiếc nón bài thơ và tà áo dài tím biếc tung bay trong gió, là về với kinh thành Huế tráng lệ năm xưa với nhã nhạc cung đình nổi danh, và cũng là về với dòng sông Hương thơ mộng đã làm say đắm bao người.

Sông Hương là một dòng sông nức tiếng trong thi ca, sông xuất hiện từ “Ca Huế trên sông Hương” của Hà Ánh Minh đến “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường hay rất nhiều tác phẩm khác. Có lẽ vì vậy mà có những người chưa từng đặt chân đến Huế cũng đã mường tượng ra được hình ảnh đẹp đẽ của dòng sông, thế nhưng phải trải nghiệm rực tiếp ngắm nhìn rồi ta mới thấy hóa ra bao nhiêu mỹ từ vẫn là không đủ để nói về dòng sông này. Sông như một dải lụa mềm mại uốn quanh ôm trọn lấy thành phố Huế thân yêu. Sông là một người mẹ hiền dịu vì mặt nước phẳng lặng và êm đềm ngày này qua tháng khác, nước sông trong vắt in bóng từng áng mây lãng du trên bầu trời quang đãng; sông bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, sông mang cả hơi thở nhiệt đới từ những cánh rừng hùng vĩ từ phương xa về với miền đất này, do đó mà sông vừa mang vẻ nên thơ trữ tình trong thơ văn mà cũng vừa mang vẻ kì vĩ đặc biệt. Vào những ngày hè rực lửa, ánh mặt trời chiếu xuống làm mặt sông lấp lóa như dát bạc, cùng lúc đó sắc đỏ bỏng cháy hòa cùng sắc tím dịu dàng của bằng lăng xâm chiếm không gian, cứ một cơn gió vụt qua là bao nhiêu cánh hoa khẽ rung rinh rơi xuống mang lại sự thơ mộng thu hút. Nhưng sông Hương cũng sẽ hòa tan vào những dòng sông đẹp khác trong tâm tưởng của người viễn khách nếu như anh ta không ngồi trên thuyền rồng nghe ca Huế. Dòng sông lúc này là một tấm vải nhung đen huyền bí với ánh trăng sáng tròn trịa sáng lung linh dập dềnh theo làn nước, khung cảnh lãng mạn kết hợp với tiếng hát, tiếng đàn của người nghệ sĩ sẽ làm tâm hồn ta được thả lỏng xuôi theo dòng nước, lạc đến những thế giới đầy mộng mơ trên sông Hương.

Em rất yêu sông Hương, sông không chỉ mang lại giá trị văn hóa mà còn là địa điểm thu hút khách du lịch bậc nhất tại Huế. Nhờ có sông Hương mà hình ảnh của Huế lại đẹp hơn, thơ mộng hơn trong mắt khách du lịch thập phương.

Văn Mẫu Lớp 10: Dàn Ý Nghị Luận Về Lòng Dũng Cảm (4 Mẫu) Lập Dàn Ý Về Lòng Dũng Cảm

1. Mở bài

Giới thiệu về lòng dũng cảm: Dũng cảm là một đức tính tốt đẹp của dân tộc ta.

2. Thân bài

– Giải thích: Dũng cảm là lòng bạo dạn, không sợ khó khăn gian khổ, sẵn sàng vượt qua dù có phải hy sinh tính mạng

– Phân tích, chứng minh

+ Người dũng cảm là người dám nghĩ dám làm, luôn tin tưởng vào chính nghĩa, sẵn sàng làm mọi thứ để bảo vệ chính nghĩa.

+ Biết phân biệt đúng sai phải trái, làm sai biết chịu trách nhiệm, biết nhận lỗi, sửa lỗi.

– Dẫn chứng: Nguyễn Văn Nam đã dũng cảm cứu một số em học sinh bị đuối nước…, các chiến sĩ đã hy sinh để bảo vệ Tổ quốc…

– Phản đề: Những người không có lòng dũng cảm, có lối sống hèn nhát, có lối suy nghĩ sai về lòng dũng cảm, cố chấp làm những điều sai trái…

– Mở rộng, liên hệ:

+ Mở rộng với tình hình đất nước Việt Nam hiện nay, các chiến sĩ vẫn bên ngoài đảo xa bảo vệ đất nước.

+ Liên hệ bản thân, cần học tập, trau dồi bản lĩnh của bản thân, dám nhận sai…

3. Kết bài

Bài học, và kết luận lại vấn đề.

1. Mở bài:

– Giới thiệu vấn đề nghị luận: Lòng dũng cảm là một trong những đức tính vô cùng cần thiết và đáng quý ở mỗi con người. Dù ở nơi đâu khi làm bất cứ việc gì con người cũng đều cần đến lòng dũng cảm.

2. Thân bài:

a) Định nghĩa về lòng dũng cảm

Là dám làm một việc gì đó mà không sợ nguy hiểm, khó khăn.

Là một phẩm chất quan trọng mà mỗi người cần có để chung sống với cộng đồng.

Người có lòng dũng cảm là người không run sợ, không hèn nhát, dám đứng lên đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác, các thế lực tàn bạo để bảo vệ công lí, chính nghĩa

b) Những biểu hiện đẹp của lòng dũng cảm

Trong công cuộc chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc, biết bao anh hùng liệt sĩ đã hi sinh tuổi xuân và tính mạng của mình cho độc lập tự do của dân tộc. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta chứng kiến rất nhiều những hành động dũng cảm: cứu người hoạn nạn, truy bắt tội phạm, tố cáo tiêu cực…

Những con người dũng cảm luôn vượt lên trên hiểm nguy để hành động theo lẽ phải, họ được cả xã hội ca ngợi, tôn vinh.

Trong xã hội ngày nay, lòng dũng cảm không ngừng đứng trước những thử thách hiểm nguy, những sự mặc cảm cả của các thế lực đen tối, con người phải cân nhắc nhiều hơn khi hành động, tuy vậy vẫn có vô số tấm gương về lòng dũng cảm đáng ngợi ca.

c) Những tiêu chí để trở thành người dũng cảm

Phải có bản lĩnh, niềm tin mãnh liệt vào chính nghĩa, chân lí, vào những giá trị tốt đẹp của cuộc sống.

Phải biết nhận thức, đánh giá đúng về cái tốt, cái xấu, cái đúng, cái sai…

Trên cơ sở của nhận thức đúng, phải vững tin vào hành động để bảo vệ chân lí, dám làm và dám chịu trách nhiệm.

Như vậy người dũng cảm không đơn thuần là người có hành động xả thân, mà còn phải là người biết xả thân vì lẽ phải, vì chính nghĩa để xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.

d) Giá trị của lòng dũng cảm

Lòng dũng cảm trở thành một chuẩn mực đạo đức của xã hội, là một trong những thước đo quan trọng để đánh giá nhân cách con người. Hồ Chí Minh đã căn dặn các thế hệ học sinh phải có lòng dũng cảm để sống tốt, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong cuộc sống hàng ngày: cứu người bị hại, gặp nạn,…

e) Bàn luận mở rộng

Liên hệ tình hình biển Đông hiện nay, lòng dũng cảm của các chiến sĩ cảnh sát biển đang ngày đêm bám biển bảo vệ chủ quyền của dân tộc.

Phê phán: những người nhầm tưởng lòng dũng cảm với hành động liều lĩnh, mù quáng, bất chấp công lí.

Phê phán những người hèn nhát, bạc nhược không dám đấu tranh, không dám đương đầu với khó khăn thử thách để vươn lên trong cuộc sống.

g) Bài học nhận thức và hành động

Liên hệ bản thân đã dũng cảm trong những việc gì…

Rèn luyện tinh thần dũng cảm từ việc làm nhỏ nhất trong cuộc sống hàng ngày nơi gia đình, nhà trường như dám nhận lỗi khi mắc lỗi, dũng cảm chỉ khuyết điểm của bạn

Trách nhiệm của tuổi trẻ trong việc rèn luyện lòng dũng cảm, phát huy truyền thống quý báu của dân tộc.

3. Kết bài:

Khẳng định lại vấn đề nghị luận: Dũng cảm là một đức tính vô cùng cần thiết trong cuộc sống, vì vậy chúng ta cần rèn luyện lòng dũng cảm để trở thành một người công dân có ích cho đất nước, đồng thời xây dựng một cuộc sống, xã hội ngày càng tươi đẹp.

A. Mở bài:

Giới thiệu được vấn đề nghị luận lòng dũng cảm

Lòng dũng cảm là một trong những đức tính vô cùng cần thiết và đáng quý ở mỗi con người.

Dù ở nơi đâu khi làm bất cứ việc gì con người cũng đều cần đến lòng dũng cảm.

B. Thân bài:

+ Giải thích được : Dũng cảm là không sợ nguy hiểm, khó khăn. Người có lòng dũng cảm là người không run sợ, không hèn nhát, dám đứng lên đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác, các thế lực tàn bạo để bảo vệ công lí, chính nghĩa

+ Khẳng định và chứng minh: Dũng cảm là phẩm chất tốt đẹp của con người ở mọi thời đại:

– Trong lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam (lấy dẫn chứng)

– Ngày nay: trên mặt trận lao động sản xuất, đấu tranh phòng chống tội phạm (nêu một vài tấm gương tiêu biểu của chiến sĩ cảnh sát, bộ đội…)

– Trong cuộc sống hàng ngày: cứu người bị hại, gặp nạn

Mở rộng, liên hệ thực tế: Liên hệ tình hình biển Đông hiện nay, lòng dũng cảm của các chiến sĩ cảnh sát biển. đang ngày đêm bám biển bảo vệ chủ quyền của dân tộc.

Phê phán: những người nhầm tưởng lòng dũng cảm với hành động liều lĩnh, mù quáng, bất chấp công lí. Phê phán những người hèn nhát, bạc nhược không dám đấu tranh, không dám đương đầu với khó khăn thử thách để vươn lên trong cuộc sống.

– Bài học nhận thức và hành động của bản thân.

– Liên hệ bản thân đã dũng cảm trong những việc gì…

Rèn luyện tinh thần dũng cảm từ việc làm nhỏ nhất trong cuộc sống hàng ngày nơi gia đình, nhà trường như dám nhận lỗi khi mắc lỗi, dũng cảm chỉ khuyết điểm của bạn

Trách nhiệm của tuổi trẻ trong việc rèn luyện lòng dũng cảm, phát huy truyền thống quý báu của dân tộc

C. Kết bài:

– Khẳng định lại vấn đề nghị luận

Cuộc sống ngày càng khó khăn, để tồn tại con người phải đối diện với rất nhiều thử thách, gian nan. Nếu không có đủ nghị lực và nếu không có lòng dũng cảm, chúng ta sẽ rất khó có được sự thành công trong cuộc sống. Dũng cảm là một phẩm chất mà chúng ta có thể bồi dưỡng thông qua rèn luyện.

1. Mở bài

– Giới thiệu vấn đề cần nghị luận về lòng dũng cảm của mỗi con người.

2. Thân bài

a. Giải thích

– Lòng dũng cảm là gì?

– Lòng dũng cảm là một đức tính tốt đẹp của con người, không run sợ trước những khó khăn thử thách, dám vượt qua những gian nan để thực hiện ước mơ của mình.

b. Chứng minh

* Những biểu hiện đẹp của lòng dũng cảm

– Trong quá khứ:

Anh hùng Trần Quốc Toản tuy mới 15 tuổi mà đã muốn xung phong đánh quân Nguyên Mông, không được đồng ý nên tức giận bóp nát quả cam.

Chú bé Lượm hăng hái vượt qua mặt trận dày đặc bom đạn để có thể hoàn thành nhiệm vụ.

Biết bao những vị anh hùng dân tộc đã ngã xuống vì màu cờ đất nước trong hai cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc: Bế Văn Đàn, Võ Thị Sáu, La Văn Cầu,…

Advertisement

– Ở hiện tại:

Cậu Nguyễn Văn Nam lớp 12 ở Nghệ An dũng cảm nhảy xuống sông cứu 3 em học sinh sắp chết đuối.

Những anh lính cứu hỏa dũng cảm quên mình.

Ngay cả những bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo ngày ngày lạc quan sống có ích cho đời cũng là một biểu hiện của lòng dũng cảm.

* Tại sao con người cần phải có lòng dũng cảm?

– Người có lòng dũng cảm dám khẳng định mình, không hèn nhát, lùi bước trước những thử thách của cuộc sống.

– Giúp hoàn thành mục tiêu với một quyết tâm cao độ, vì thế mà dễ dàng đạt thành quả hơn.

– Khẳng định giá trị bản thân trước bạn bè, gia đình và xã hội.

* Phản đề

– Phê phán những người hèn nhát, không dám lên tiếng trước những bất công xã hội.

– Phê phán những người ngộ nhận lòng dũng cảm với sự liều lĩnh, bất chấp, không biết hậu quả trước sau.

c. Bài học nhận thức và hành động

– Bài học nhận thức: hiểu giá trị đúng đắn mà lòng dũng cảm mang lại

– Bài học hành động: Tu dưỡng, rèn luyện lòng dũng cảm từ những việc nhỏ bé nhất trong cuộc sống hàng ngày để có dũng khí đương đầu với những khó khăn

3. Kết bài

Khẳng định vấn đề cần nghị luận: dũng cảm là một đức tính tốt mà mọi người cần phải rèn luyện

Dàn Ý Tả Dòng Sông Quê Em (7 Mẫu)

TOP 7 Dàn ý Tả dòng sông SIÊU HAY, giúp các em học sinh lớp 5 nắm được cấu trúc, có thêm nhiều ý tưởng mới cho bài văn tả cảnh dòng sông quê em, tả sông Hồng, tả sông Sài Gòn, tả sông Hương, tả sông Hàn…

1. Mở bài: Giới thiệu về dòng sông quê em: Quê em rất đỗi thân thương và bình dị. Em thích nhất là ra bờ sông để ngắm nhìn dòng nước chảy rì rào, để ngâm chân mình dưới dòng nước mát lạnh. Con sông quê em rất đỗi thân thương, em sẽ giới thiệu con sông quê em cho mọi người cùng biết.

2. Thân bài

a. Tả khái quát

Dòng sông dài ngoằn ngoèo

Dòng sông có nước trong veo, chảy rì rào như một điệu nhạc

Dòng sông nằm cạnh cánh đồng bao la

Hai bên dòng sông có các cây cỏ um tùm

b. Tả chi tiết

– Buổi sáng:

Mặt trời mọc hòa mình vào dòng sông

Dòng sông nhộn nhịp với tàu thuyền đánh cá

Tấp nập người qua sông

Rồi người làm việc trên sông

Trẻ con đi cào hến, bắt cua trên sông

– Buổi trưa

Nắng trải dài trên sông

Dòng sông nằm phẳng lặng

Những đứa trẻ nghịch ngợm không ngủ trưa ra sông nghịch nước

Những người già ra sông tìm bóng mát nghỉ trưa

Các mẹ thì tất bật giặt quần áo

– Buổi chiều

Dòng sông lấp lánh ánh vàng của những vệt nắng cuối ngày

Bọn trẻ nhỏ nô đùa quanh sông

Các chú chèo thuyền đi thả lờ để đặt cá

Màn đêm bắt đầu buông xuống

– Buổi tối

Dòng sông chìm trong bóng tối

Những người đi thả cá, bắt tôm

Những ánh đèn mập mờ trên sông

Rồi dòng sông chìm trong giấc ngủ êm đềm

– Lợi ích của dòng sông

Cung cấp nước sinh hoạt

Mang lại lương thực thực phẩm

Điều hòa nguồn nước

3. Kết bài: Nêu cảm nghĩ của em về dòng sông: Con sông đã cùng em lớn lên, con sông như một người bạn thời cắp sách của em. Con sông mang lại nhiều lợi ích cho gia đình em và những người trong làng em. Em rất yêu con sông quê em.

a. Mở bài

Dẫn dắt, giới thiệu về dòng sông mà em muốn miêu tả.

Gợi ý: Quê hương em là một vùng đất tươi đẹp. Nơi đây có cánh đồng lúa rộng mênh mông bát ngát, có bờ đê thoai thoải mà mỗi chiều về lại nô nức lũ trẻ thả diều, có con đường làng gập ghềnh đất đỏ… Nhưng đi xa, em nhớ nhất vẫn là con sông êm đềm chảy phía cuối làng, nơi níu giữ những kỉ niệm đẹp nhất của tuổi thơ em.

b. Thân bài

– Miêu tả chung về dòng sông:

Dòng sông đó nằm ở vị trí nào?

Đó là một dòng sông tự nhiên mà có hay là do người dân đào nên?

Con sông có tên gọi là gì? Tên gọi đó do ai đặt? Cách đặt tên đó gắn liền với quan niệm hay một câu chuyện nào không?

Dòng sông đó bắt nguồn từ đâu? Chảy qua những nơi nào và đổ về đâu?

Chiều dài, bề rộng, chiều sâu của dòng sông khoảng bao nhiêu? (nếu không thể nói số đo chính xác, thì có thể so sánh với những sự vật khác để xác định kích thước)

– Miêu tả chi tiết dòng sông:

Nước sông ở đây có màu gì? (thay đổi như thế nào theo mùa)

Nước sông luôn đầy ắp quanh năm hay có sự nâng lên, giảm xuống tùy vào mùa mưa, mùa khô?

Dưới đáy sông là gì? (lớp bùn non, lớp cát sỏi…)

Thế giới sinh vật dưới sông có gì đặc biệt? (tôm, cua, cá, các loại rong, bèo…)

Hai bên bờ sông có được xây dựng bờ kè, cầu thang, cầu gỗ để tiện lên xuống dòng sông không?

– Hoạt động của con người với dòng sông:

Những người kiếm sống nhờ dòng sông (đánh bắt tôm cá, thả bè nuôi cá trên sông, tàu thuyền chở đồ trên mặt sông…)

Mọi người giặt giũ, lấy nước… ở hai bên bờ sông

Lũ trẻ con xuống tắm, bơi lội ở khúc sông cạn vào mùa hè nóng bức

Những quán nước, chòi nghỉ chân dựng cạnh bờ sông cho mát mẻ

Các bến tàu thuyền ở các khúc sông tấp nập người qua sông…

c. Kết bài

Tình cảm của em dành cho con sông quê hương.

Ý nghĩa của con sông ấy đối với em và đối với quê hương em.

Gợi ý: Dòng sông quê hương ấy đã bồi đắp lên tuổi thơ tuyệt vời của em, và của biết bao đứa trẻ khác ở vùng nông thôn ấy. Nay, dù đã lên thành phố cùng bố mẹ suốt gần năm năm rồi, mà em vẫn còn nhớ mãi hình ảnh con sông đầy ăm ắp ấy; còn nhớ mãi cảm giác ngụp lặn dưới dòng nước mát ấy. Em mong rằng, dù thời gian trôi qua, quê hương em đang từng ngày thay đổi, thì dòng sông quê hương ấy vẫn sẽ mãi hiền hòa và bao dung với người dân nơi đây như thuở nào.

1. Mở bài

Giới thiệu bao quát:

Con sông Sài Gòn quê em hiền hòa dang tay ôm thành phố vào lòng.

Con sông này gắn bó với tuổi thơ em.

2. Thân bài

* Buổi sớm:

Mặt sông phẳng lặng, thấp thoáng trong sương.

Bãi mía bên kia sông xanh mờ mờ.

Dãy thuyền chài neo sát bờ le lói ánh lửa nấu cơm sớm.

Tiếng người í ới, xôn xao chỗ bến đò ngang.

Tiếng mái chèo khua nước lao xao.

Nắng lên, mặt nước lấp lánh, dòng sông xanh biếc mang phù sa cuồn cuộn trôi xuôi theo dòng nước.

Bầu trời xanh trong in bóng xuống mặt hồ.

Khi có gió nhẹ thổi qua, mặt nước sông nhấp nhô gợn sóng.

Hoạt động trên bến đò tấp nập, nhộn nhịp.

* Buổi chiều:

Người lớn, trẻ con ùa xuống sông tắm mát.

Dòng sông như dang rộng vòng tay ôm tất cả vào lòng.

Mặt trời chiều tỏa những tia nắng vàng nhè nhẹ xuống dòng sông.

Chim chóc nô đùa, vỗ cánh hót vang.

Trong ánh hoàng hôn, cảnh sông nước càng thêm thơ mộng.

3. Kết bài

Nêu cảm nghĩ của em:

Dòng sông gắn bó thân thiết với tuổi thơ đầy kỉ niệm.

Dòng sông góp phần làm nên vẻ đẹp của quê hương.

I. Mở bài:

Dòng sông em định tả có tên là gì? ở đâu? (Sông Hồng, thị xã Sơn Tây.)

Tại sao em lại chọn tả dòng sông ấy? (Sông Hồng gắn bó với tuổi thơ em.)

II. Thân bài:

* Buổi sớm:

Mặt sông phẳng lặng, thấp thoáng trong sương.

Bãi mía bờ dâu bên kia sông xanh mờ mờ.

Dãy thuyền chài neo sát bờ le lói ánh lửa nấu cơm sớm.

Tiếng người í ới, xôn xao chỗ bến đò ngang; tiếng mái chèo khua nước…

Nắng lên, mặt nước lấp lánh, đỏ đậm phù sa, cuồn cuộn trôi xuôi.

Hoạt động trên bến cảng tấp nập, nhộn nhịp…

* Buổi chiều:

Người lớn, trẻ con xuống sông tắm mát.

Dòng sông như giang rộng vòng tay ôm tất cả vào lòng.

Trong ánh hoàng hôn, cảnh sông nước càng thêm thơ mộng.

III. Kết bài:

Dòng sông gắn bó thân thiết với tuổi thơ đầy kỉ niệm.

Dòng sông góp phần làm nên vẻ đẹp của quê hương.

I. Mở bài:

Giới thiệu sông Hương xứ Huế.

Mỗi dòng sông sẽ mang một dáng vẻ khác nhau, trong rất nhiều dòng sông trên khắp cả nước, em thích nhất là dòng sông Hương xứ Huế.

II. Thân bài:

a. Tả bao quát dòng sông Hương:

Nhìn từ trên cao sông Hương như một tấm lụa đào mềm mại chảy trong lòng thành phố Huế mộng mơ.

Không biết rõ từ bao giờ đã có con sông này, em chỉ được nghe kể lại nó đã sống cùng lịch sử dân tộc hàng thế kỉ từ thời vua Hùng đến khi đất nước trong thời bình.

b. Tả chi tiết:

Buổi sáng khi ánh nắng tỏa xuống dòng sông như dát bạc ánh lên sắc chúng tôi thoảng có làn gió nhẹ thoảng qua , những con sóng lăn tăn nối tiếp nhau chạy xa tít tắt. Trưa về dòng sông lấp lánh ánh vàng. Trên sông lúc này thật nhộn nhịp. Những chiếc thuyền giăng buồm thả lưới bắt cá. Hai bên bờ sông là những hàng tre xanh ngắt và màu cỏ lá xanh biếc. Đêm về sông khoác lên mình màu đen huyền bí. Trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn xưa cũ của đất kinh kì. Trong khoảnh khắc ấy, tiếng đàn cất lên làm khung cảnh thêm thơ mộng. Nền âm nhạc cổ điển Huế – nhã nhạc cung đình Huế như được sinh thành từ dòng sông này.

Giữa dòng sông là chiếc cầu trắng nối hai bên bờ như vầng trăng non. Trên sông có bến đò hằng ngày đưa khách qua sông. Con sông ôm chúng em vào lòng như người mẹ đối với đàn con. Chúng em vui đùa hai bên dòng sông, các bà các mẹ tất bật mang thành quả của các bác các chú cả một ngày là mẻ cá đầy với nét mặt rạng rỡ.

Dòng sông cho em rất nhiều kỉ niệm sâu sắc. Lần đó khi em học lớp ba, em được bố em cho ra sông tập bơi. Lúc đầu được bố hướng dẫn và tập thử em vô cùng thích thú. Nhưng khi tự tập không cần phao bơi em hơi run chân tay bắt đầu co lại, em sợ cứ vùng vằng trên nước, em la lên gọi bố. Thật may bố đã tóm được lấy tay em . Cho đến tận bây giờ mỗi lần nhắc lại kỉ niệm ấy em lại thấy thích thú và cũng từ ấy em đã quyết tâm học bơi và đã biết bơi.

III. Kết bài:

Nêu tình cảm của em với dòng sông.

Em yêu dòng sông Hương như người mẹ hiền của em. Mỗi khi đi xa em vẫn nhớ dòng sông này, nhớ bản trường ca của rừng già hùng vĩ.

1. Mở bài

Giới thiệu về dòng sông Hàn ở Đà Nẵng.

2. Thân bài

– Tả bao quát dòng sông:

– Tả dòng sông theo trình tự thời gian, thời điểm trong ngày:

Bình minh, buổi sáng dòng sông hiền hòa, êm đềm, ít tàu thuyền qua lại

Buổi chiều, hoàng hôn dòng sông nhộn nhịp tàu thuyền ra vào, bờ sông nhiều người đi hóng gió, tập thể dục.

Buổi tối: dòng sông Hàn lung linh huyền ảo và thơ mộng dưới những ánh đèn điện.

– Tả dòng sông Hàn theo trình tự không gian:

Dòng sông nhìn từ xa uốn lượn quanh co, về gần lại rộng mênh mông, sóng nước dập dìu.

Dòng sông nhìn từ trên cao xuống như một dải lụa mềm.

3. Kết bài

Cảm nhận của em về dòng sông Hàn.

1. Mở bài

Dòng sông em định tả ở đâu, tên gì? (Sông Dinh, thị xã Ninh Hòa).

2. Thân bài

* Tả cảnh bao quát: (giới thiệu sơ lược).

Sông Dinh chảy qua thị xã Ninh Hoà. Chính từ bãi sông màu mỡ này mà huyện Ninh Hoà xưa kia phát triển thành thị xã ngày nay.

Toàn cảnh hai bên bờ sông là nhà của cư dân các xã và thị xã. Hai bên bờ lô nhô những rặng dừa xanh mát.

* Tả cảnh chi tiết:

Sáng sớm: nước sông trong trẻo, có thể nhìn thấy hòn cuội ở ven bờ.

Trưa: nước sông có màu đục nhờ nhờ, một vài thuyền câu cá giăng lưới (nông dân bắt cá để cải thiện bữa ăn). Nước triều cao, mặt sông nhấp nháy ánh mặt trời.

Chiều tà: mặt nước sông nhuộm màu vàng đất pha lẫn ánh vàng le lói của mặt trời sắp lặn.

Hai bên bờ sông: nhà cửa lô nhô, thỉnh thoảng có một bến nước để bà con lấy nước, một vài chị phụ nữ giặt quần áo, một hai chiếc xe bò kéo lấy cát ở bãi sông.

Chiều tắt nắng, nước triều rút mạnh, đàn cò từ đâu bay đến, chúng đậu ở đồi cát, đi lững thững bắt tép tôm.

Sông đẹp nhất vào độ trưa, khi ánh nắng làm đẹp rặng dừa hai bên bờ và dòng sông óng ánh như có bạc.

* Nêu ích lợi của con sông:

Con sông đem lại khí hậu mát mẻ cho quê em.

Con sông là nguồn nước để tưới cho đồng ruộng, nuôi trồng thuỷ sản vùng nước ngọt.

3. Kết luận:

Nêu tình cảm, suy nghĩ của em về dòng sông quê hương.

Em làm gì để giữ gìn cho con sông mãi đẹp và trong lành? (Bảo vệ môi trường sạch đẹp, tuyên truyền để người dân chung sức giữ gìn bãi sông, nước được sạch.)

Văn Mẫu Lớp 7: Tóm Tắt Bài Ca Huế Trên Sông Hương (6 Mẫu) Những Bài Văn Mẫu Lớp 7

Tóm tắt bài Ca Huế trên sông Hương

Xứ Huế nổi tiếng với các điệu hò, mỗi câu hò như gửi gắm những tâm tình, tình cảm của người hò vào đó. Ngoài ra, hò Huế còn thể hiện lòng khao khát, nỗi mong chờ hoài vọng thiết tha của tâm hồn Huế. Ban đêm, các lữ khách chèo thuyền rồng đi lại trên sông Hương nghe những câu hò quả là một thú vui. Ca Huế được hình thành từ dòng ca nhạc dân gian và ca nhạc cung đình, thể hiện qua hai dòng điệu Bắc và điệu Nam. Đây là thú vui tao nhã, đầy sức quyến rũ.

Xứ Huế vốn nổi tiếng với các điệu hò. Mỗi câu hò dù ngắn hay dài đều gửi gắm những tâm tình, tình cảm trọn vẹn. Ngoài ra, hò Huế còn thể hiện lòng khao khát, nỗi mong chờ hoài vọng tha thiết. Vào ban đêm, các lữ khách chèo thuyền rồng đi lại trên sông Hương nghe những câu hò quả là một thú vui. Ca Huế được hình thành từ dòng ca nhạc dân gian và ca nhạc cung đình, thể hiện qua hai dòng điệu Bắc và điệu Nam. Ca Huế là thú vui tao nhã, đầy sức quyến rũ. Còn người con gái Huế nội tâm lại thật phong phú và âm thầm, kín đáo.

Huế nổi tiếng với các điệu hò, các làn điệu dân ca. Mỗi câu hò Huế dù ngắn hay dài đều được gửi gắm ít ra một ý tình trọn vẹn. Ca Huế trên sông Hương là một sinh hoạt văn hoá tao nhã, đầy sức quyến rũ, được các ca sĩ, nhạc công tài hoa biểu diễn trên thuyền rồng.

Huế là thành phố nổi tiếng với rất nhiều điệu hò: Chèo cạn, bài thai, hò đưa linh buồn bã, hò giã gạo, ru em, giã vôi, giã điệp, bài chòi, bài tiệm… Mỗi câu hò Huế dù ngắn hay dài đều được gửi gắm ít ra một ý tình trọn vẹn. Ban đêm, khi thành phố đã lên đèn, các lữ khách lên đi thuyền trên sông sẽ được nghe các điệu hò. Ca Huế có nguồn gốc từ dòng ca nhạc dân gian và ca nhạc cung đình. Thú nghe ca Huế rất tao nhã và đầy sức quyến rũ.

Xứ Huế vốn nổi tiếng với các điệu hò, Mỗi câu hò đều gửi gắm một ý tình trọn vẹn. Hò Huế thể hiện lòng khao khát, nỗi mong chờ hoài vọng thiết tha của tâm hồn Huế. Ban đêm, các lữ khách chèo thuyền rồng đi lại trên sông sẽ được nghe các điệu hò. Ca Huế được hình thành từ dòng ca nhạc dân gian và ca nhạc cung đình, thể hiện qua hai dòng điệu Bắc và điệu Nam. Ca Huế là thú vui tao nhã, đầy sức quyến rũ của mảnh đất này.

Xứ Huế nổi tiếng với các điệu hò: hò khi đánh cá trên sông, biển cả, hò lúc cấy cày, gặt hái, chăn tằm… Mỗi câu hò Huế đều gửi tắm một ý tình trọn vẹn. Ngoài ra, còn có các điệu lí như lí con sáo, lí hoài xuân, lí hoài nam… Đêm, thành phố lên đèn, tác giả như một người lữ khách bước lên thuyền rồng, ngồi nghe ca Huế. Nguồn gốc của ca Huế được hình thành từ dòng ca nhạc dân gian và ca nhạc cung đình. Thể điệu ca Huế có sôi nổi, vui tươi, có buồn cảm, bâng khuâng, có bi thương ai oán… Lời ca thong thả, trang trọng, trong sáng gợi lên tình người, tình đất nước. Có thể nói, nghe ca Huế là một thú vui tao nhã, đầy sức quyến rũ.

Advertisement

Văn Mẫu Lớp 12: Cảm Nhận Về Bài Thơ Đất Nước Của Nguyễn Khoa Điềm Dàn Ý &Amp; 10 Bài Văn Mẫu Lớp 12

Dàn ý cảm nhận bài thơ Đất nước

1. Mở bài:

– Giới thiệu về tác giả Nguyễn Khoa Điềm: ông thuộc thế hệ nhà thơ chống Mĩ cứu nước, thơ ông là sự kết hợp giữa cảm xúc nồng nàn và chất triết lí, suy tư của người trí thức về đất nước, con người.

– Giới thiệu về bài thơ Đất nước: được trích trong trường ca Mặt đường khát vọng, là một bài thơ có chất triết lí sâu sắc, thể hiện tư tưởng “Đất nước của nhân dân”.

2. Thân bài

* Đất nước được cảm nhận từ phương diện lịch sử, văn hóa, chiều sâu của không gian, chiều dài của thời gian

* Đất nước có từ bao giờ? (lí giải cội nguồn của đất nước) (9 câu đầu)

– Tác giả khẳng định một điều tất yếu: “Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi”, điều này thôi thúc mỗi con người muốn tìm đến nguồn cội đất nước.

– Đất nước bắt nguồn từ những diều bình dị, gần gũi trong đời sống của người Việt Nam từ xa xưa: “ngày xửa ngày xưa” gợi nhớ đến câu mở đầu các câu chuyện dân gian, “miếng trầu” gợi nhớ tục ăn trầu của người Việt và truyện cổ tích trầu cau, “Tóc mẹ thì bới sau đầu”: thói quen búi tóc của những người phụ nữ Việt Nam, “Thương hau bằng gừng cay muối mặn” thói quen tâm lí, truyền thống yêu thương của dân tộc.

– Đất nước trưởng thành cùng quá trình lao động sản xuất “cái kèo cái cột thành tên”, “một nắng hai sương”, quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm.

– Nhận xét: Tác giả có cái nhìn mới mẻ về cội nguồn đất nước, đất nước bắt nguồn từ chiều sâu văn hóa, văn học, lịch sử và truyền thống dân tộc.

* Định nghĩa về đất nước (28 câu thơ tiếp theo)

– Về phương diện không gian địa lí:

Tác giả tách riêng hai yếu tố “đất” và “nước” để suy tư một cách sâu sắc.

Đất nước là không gian riêng tư quen thuộc gắn với không gian sinh hoạt của mỗi con người: “nơi anh đến trường”, “nơi em tắm”; gắn với kỉ niệm tình yêu lứa đôi: “nơi em đánh rơi… thương thầm”.

Đất nước là không gian bao la trù phú, không gian sinh tồn của cộng đồng qua bao thế hệ: “Đất là nơi con chim phượng hoàng… dân mình đoàn tụ”.

– Nhìn đất nước được nhìn xuyên suốt chiều dài lịch sử từ quá khứ, hiện tại đến tương lai:

Trong quá khứ đất nước là nơi thiêng liêng, gắn với truyền thuyết, huyền thoại: “Đất là nơi chim về… trong bọc trứng”

Trong hiện tại: đất nước có trong tấm lòng mỗi con người, mỗi người đều thừa hưởng những giá trị của đất nước, khi có sự gắn kết giữa mỗi người đất nước sẽ nồng thắm, hài hòa, lớn lao. Đó là sự gắn kết giưa cái riêng và cái chung.

Trong tương lai: thế hệ trẻ sẽ “mang đất nước đi xa” “đến những ngày mơ mộng”, đất nước sẽ trường tồn, bền vững.

– Suy tư về trách nhiệm của mỗi cá nhân với đất nước: “Phải biết gắn bó và san sẻ”, đóng góp, hi sinh để góp phần dựng xây đất nước.

– Nhận xét: qua cái nhìn toàn diện của nhà thơ, đất nước hiện lên vừa gần gũi, thân thuộc lại vừa thiêng liêng, hào hùng và trường tồn đến muôn đời sau.

* Tư tưởng cốt lõi, cảm nhận về đất nước: đất nước của nhân dân

– Thiên nhiên địa lí của đất nước không chỉ là sản phẩm của tạo hóa mà được hình thành từ phẩm chất và số phận của mỗi người, là một phần máu thịt, tâm hồn con người:

Nhờ tình nghĩa yêu thương, thủy chung mà có “hòn Vọng Phu”, “hòn Trống Mái”

Nhờ tinh thần bất khuất, anh hùng trong quá trình dựng nước và giữ nước mà có những ao đầm, di tích lịch sử về quá trình dựng nước.

Nhờ truyền thống hiếu học mà có những “núi Bút non Nghiên”

– Nhân dân làm nên lịch sử 4000 năm:

Họ là những người con trai, con gái bình dị nhưng luôn thường trực tình yêu nước.

Tác giả nhấn mạnh đến những con người vô danh làm nên lịch sử, khẳng định vai trò của mỗi cá nhân với lịch sử dân tộc.

– Nhân dân tạo ra và giữ gìn những giá trị vật chất, tinh thần cho đất nước: văn hóa: “truyền hạt lúa”, “truyền lửa”, “truyền giọng nói”, “gánh theo tên xã, tên làng”,… từ đó xây dựng nền móng phát triển đất nước lâu bền.

– Tư tưởng cốt lõi, cảm hứng bao trùm cả đoạn trích: “đất nước này là đất nước của nhân dân đất nước của ca dao thần thoại”, đất nước ấy thể hiện qua tâm hồn con người: biết yêu thương, biết quý trọng trọng tình nghĩa, công sức và biết chiến đấu vì đất nước.

– Nhận xét:

Về nội dung: đoạn trích “Đất nước” đã thể hiện cái nhìn mới mẻ về đất nước trên nhiều bình diện: văn hóa, lịch sử, địa lí dựa trên tư tưởng cốt lõi: “đất nước của nhân dân”.

Về nghệ thuật: sử dụng đa dạng và sáng tạo chất liệu văn hóa dân gian, ngôn ngữ giàu chất suy tư, triết luận sâu sắc.

3. Kết bài:

– Khẳng định lại giá trị của đoạn trích: đoạn trích đã nhấn mạnh tư tưởng “đất nước của nhân dân”, thể hiện tinh thần yêu nước của tác giả, đánh thức tinh thần yêu nước trong mỗi con người.

– Nêu cảm nhận riêng về đoạn trích đất nước và có liên hệ thực tiễn đến trách nhiệm của thế hệ hôm nay với đất nước.

Cảm nhận Đất nước học sinh giỏi – Mẫu 1

Con người Việt Nam ta từ xưa đến nay tinh thần yêu nước, lòng dũng cảm luôn chảy trong dòng máu, sẵn sàng chiến đấu, hi sinh để bảo vệ độc lập tự do cho Tổ quốc. Trong những năm tháng kháng chiến chống Mĩ gian khổ, có biết bao nhiêu bài thơ, bài văn ra đời để cổ vũ tinh thần chiến đấu cho quân và dân ta ngoài mặt trận. Một trong số các tác phẩm khơi gợi lòng yêu nước đó không thể không kể đến Trường ca Mặt đường khát vọng của tác giả Nguyễn Khoa Điềm mà nổi bật là đoạn trích Đất nước.

Nguyễn Khoa Điềm được biết đến là nhà thơ với phong cách trữ tình chính luận độc đáo. Thơ Nguyễn Khoa Điềm thu hút, hấp dẫn người đọc bởi sự đan kết cảm xúc nồng nàn và suy tư sâu lắng của một thanh niên tri thức tự ý thức sâu sắc về vai trò, trách nhiệm của mình trong cuộc chiến đấu vì đất nước và nhân dân. “Trường ca Mặt đường khát vọng” là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ văn của ông. Đoạn trích Đất nước thuộc chương V của bản Trường ca mang đến cho bạn đọc cái nhìn mới mẻ về hình hài của Đất nước.

Mở đầu bài thơ, tác giả lí giải về cội nguồn của Đất nước

Tác khẳng định trực tiếp rằng Đất nước này đã tồn tại từ rất lâu đời, khi mà con người mới sinh ra trên mảnh đất của họ thì chính nơi đó là đất nước, là quê hương. Đất Nước ra đời từ rất xa xưa như một sự tất yếu, trong chiều sâu của lịch sử thời các vua Hùng dựng nước và giữ nước đã đi vào sử sách được lưu truyền đến tận bây giờ. Đất nước trước hết không phải là một khái niệm trừu tượng mà là những gì rất gần gũi, thân thiết ở ngay trong cuộc sống bình dị của mỗi con người. Từ lời hát mẹ ru, từ những câu chuyện “ngày xửa ngày xưa” mà mẹ kể đã nuôi dưỡng chúng ta khôn lớn, làm ta hiểu hơn về văn hóa của ta, theo ta đi hết cuộc đời và trở thành một phần kí ức tốt đẹp khiến ta không thể quên. Nhai trầu từ lâu đã trở thành một thói quen không thể thiếu của những người phụ nữ Việt Nam nhất là các bà, các mẹ và từ lâu dân gian ta đã có câu chuyện sự tích trầu cau nói về tình nghĩa con người. Từ những năm tháng trước công nguyên, từ thời của hai Bà Trưng, Bà Triệu, là lần đầu tiên nước ta mạnh mẽ đứng lên khởi nghĩa đánh đuổi giặc ngoại xâm. Từ những câu chuyện truyền thuyết Thành Gióng với hình ảnh nhổ cả luỹ tre giơ cao đánh đuổi giặc. Cây tre cũng là hình ảnh biểu tượng của người nông dân Việt Nam, hiền lành, thật thà, chăm chỉ và chất phác nhưng cũng rất kiên cường bất khuất.

Bên cạnh truyền thống về lòng yêu nước, tác giả Nguyễn Khoa Điềm còn nhắc đến những hình ảnh mang đậm vẻ đẹp thuần phong mĩ tục giản dị của con người Việt Nam :

Từ ngày xưa, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam luôn gắn liên với mái tóc dài, được búi gọn gàng ngay sau đầu. Vẻ đẹp đó của một người bà, người mẹ, người chị, của một người con gái Việt Nam mộc mạc, giản dị nhưng lại rất nữ tính, thuần hậu rất riêng. Tác giả đã vận dụng thành ngữ “gừng cay muối mặn” một cách hết sức tự nhiên, đặc sắc, nhẹ nhàng mà thấm đượm ân tình để nói lên sự thuỷ chung ở trong con người như câu nói “gừng càng già càng cay, muối càng lâu càng mặn, con người sống với nhau lâu năm thì tình nghĩa sẽ đong đầy”.

Ngoài những phong tục tập quán và tình yêu thương của con người, Nguyễn Khoa Điềm còn nêu lên truyền thống lao động sản xuất của người dân: Từ xa xưa, con người đã biết chặt gỗ mà làm nhà. Những ngôi nhà đó sử dụng kèo, cột giằng giữ vào nhau vững chãi, bền chặt tránh được mưa gió và thú dữ. Đó cũng chính là ngôi nhà tổ ấm cho mọi gia đình có thể đoàn tụ, quây quần bên nhau, cùng nhau chia sẻ niềm vui nỗi buồn; từ đó hình thành nên làng, xóm và Đất nước. Ngôi nhà là mái ấm, là nơi con người “an cư lạc nghiệp” siêng năng tích góp của cải dồn thành sự phát triển đất nước. Nhà thơ vận dụng khéo léo câu thành ngữ “Một nắng hai sương” để nói lên sự cần cù chăm chỉ của cha ông ta trong lao động sản xuất. Các động từ “xay – giã – dần – sàng” đó là quy trình sản xuất ra hạt gạo. Để làm ra được hạt gạo, người nông dân phải trải qua biết bao tháng ngày nắng sương vất vả gieo cấy, chăm sóc, xay giã và giần sàng. Thấm vào trong hạt gạo bé nhỏ ấy là mồ hôi vị mặn nhọc nhằn của người nông dân vất vả nắng mưa. Thành quả ngọt ngào này không chỉ giúp dân ta có đời sống no ấm mà nó còn trở thành nền văn minh lúa nước mà khi nhắc đến người ta biết ngay đến Việt Nam; không chỉ dừng lại ở đó, nền văn minh này đã giúp cho nước ta trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thế hai thế giới và toàn cầu biết đến lúa gạo Việt Nam.

Từ tất cả các yếu tố trên, nhà thơ khẳng định: “Đất Nước có từ ngày đó…” Ngày đó là ngày nào, chúng ta không hề biết, tác giả cũng không thể biết. Chỉ biết rằng ngày đó chính là ngày ta bắt đầu có truyền thống, có những phong tục tập quán, có nhiều văn hoá riêng biệt khác với quốc gia khác. Đó là ngày ta có Đất nước của dân tộc Việt Nam.

Tiếp nối sau khẳng định Đất nước là của nhân dân, tác giả định nghĩa về Đất nước vô cùng độc đáo:

Đất nước không chỉ được cảm nhận bằng không gian địa lí hay chiều dài lịch sử mà Đất nước còn được cảm nhận bằng không gian sinh hoạt vô cùng gần gũi, thân thuộc. “Đất” gắn liền với hình ảnh, hoạt động của người con trai, “nước” gắn với vẻ đẹp của người con gái nhưng hai tiếng Đất nước lại hợp thành tình yêu đôi lứa mặn mà. Đất nước cũng là nơi để họ hẹn hò, trao nhau những yêu thương mùi mẫn, những kỉ niệm, những nhớ thương, mong mỏi của thời gian xa cách.

Người xưa có câu: “Đất lành chim đậu”, đất là nơi chim bay về làm tổ, nước là nơi con cá vùng vẫy giữa đại dương mênh mông. Ngần ấy năm lịch sử là quãng thời gian dài hình thành nên sự trù phú của thiên nhiên, làm giàu cho đất nước để từ đó Đất nước trở thành nơi con người đoàn tụ làm ăn sinh sống và làm nên truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ cùng bọc trăm trứng trở thành những thế hệ đầu tiên của đồng bào ta.

Từ những lí giải, cảm nhận trên về Đất nước, tác giả nhắn nhủ đến những thế con người dù đi trước, dù đi sau, dù ở bất cứ thời đại, hoàn cảnh nào cũng phải nhớ về cội nguồn, biết ơn cội nguồn và nhớ về ngày giỗ tổ Hùng Vương – người đã có công gây dựng nền móng nhà nước đầu tiên để có Đất nước bây giờ.

Đất Nước được Nguyễn Khoa Điềm cảm nhận dựa trên bề rộng của không gian địa lí, chiều dài của lịch sử, bề dày của truyền thống văn hóa, Đất Nước thống nhất giữa cái hằng ngày với cái muôn đời trong cuộc sống cộng đồng, sự hòa quyện không thể tách rời giữa nhân dân và cộng đồng.

Sau những nhận định, lí giải Đất nước trên những phương diện khác nhau, tác giả nêu lên trách nhiệm của con người đối với Đất nước:

Đất nước dường như là một phần máu thịt của mỗi con người. Đất nước của tình yêu đôi lứa là một đất nước hài hòa, nồng thắm. Đất nước của cả dân tộc đoàn kết là đất nước vẹn tròn, to lớn có sức mạnh chống lại mọi thế lực kẻ thù. Qua đây, tác giả thể hiện niềm tin yêu của mình vào thế hệ con cháu mai sau, rồi chúng sẽ mang đất nước mình sánh vai với các cường quốc năm châu, rồi chúng sẽ phát triển đất nước này đến những tháng ngày mà hiện tại ta đang mơ mộng.

“Em ơi em” – một tiếng gọi yêu thương, giãi bày và san sẻ bao niềm vui sướng đang dâng lên trong lòng khi nhà thơ cảm nhận và định nghĩa về Đất Nước: “Đất Nước là máu xương của mình” để từ đó, tác giả nêu lên trách nhiệm của mỗi con người với Đất nước, phải biết gắn bó và san sẻ với những mảnh đời bất hạnh, phải biết hi sinh, hóa thân để giữ vững dáng hình xứ sở để Đất nước này tồn tại muôn đời.

Đoạn thơ thể hiện cái tôi suy tư đầy ý thức trách nhiệm của tác giả: mỗi con người không phải chỉ sở hữu riêng của cá nhân người đó mà còn là của chung của đất nước. Bởi chúng ta đều được thừa hưởng những di sản văn hóa, tinh thần của đất nước và được nuôi dưỡng trưởng thành trong di sản đó. Vì vậy mỗi người đều phải có trách nhiệm giữ gìn, bảo vệ, phát huy nền văn hóa ấy. Từ đây, ta thấy rõ hơn cách cảm nhận, cái nhìn Đất Nước toàn vẹn, tổng hợp đa chiều của Nguyễn Khoa Điềm (địa lí, lịch sử, văn hóa, phong tục, truyền thống tinh thần của dân tộc trong đời sống hằng ngày, biến cố lịch sử…).

Nguyễn Khoa Điềm thật khéo léo và tinh tế khi đã vận dụng sáng tạo thành công chất liệu dân gian vào bài thơ của mình để tạo nét riêng biệt không thể nhầm lẫn. Đó là sự tích hòn Vọng Phu nói về tình cảm thủy chung, son sắt chờ chồng đến hóa đá của người phụ nữ. Đó là tình hòn Trống Mái gắn với truyền thuyết tình cảm vợ chồng chung thủy. Dù ở bất cứ nơi nào trên đất nước, bờ cõi này thì tình cảm yêu thương, gắn bó vợ chồng vẫn là những tình cảm vô cùng tốt đẹp xứng đáng được tôn vinh.

Không chỉ có tình yêu đôi lứa, tình cảm vợ chồng, Nguyễn Khoa Điềm còn tôn vinh cả nền lịch sử với lòng yêu nước nồng nàn của dân tộc ta. Đó là vị anh hùng Thánh Gióng nhỏ tuổi nhưng khi có giặc anh dũng ra trận đánh đuổi giặc Ân lấy lại độc lập cho nước nhà. Đó là mảnh đất Tổ thờ vua Hùng vô cùng linh thiêng với sự quây quần của đàn voi chín mươi chín con. Tất cả những câu truyện, những sự tích, truyền thuyết trên đều rất thân thuộc với mỗi thế hệ con dân trên Đất nước này, trở thành niềm tự hào vô bờ bến của chúng ta.

Chúng ta có thể tự hào rằng Đất nước này là đất nước của những con người hiếu học. Biết bao tấm gương nghèo vượt khó vươn kên trở thành nhân tài cho đất nước, đánh dấu công lao của mình bằng những núi Bút, non Nghiên. Dù họ là những người nổi tiếng hay chỉ là những con người vô danh thì họ cũng đáng để chúng ta biết ơn, học tập và noi theo.

Đất nước còn được hình thành từ những điều hết sức nhỏ bé: những quả núi hình con cóc, con gà quây quần cũng giúp cho Hạ Long trở thành di sản thế giới. Những ngọn núi khác cũng được đặt theo tên của các vị anh hùng để con cháu mai sau không quên ơn họ và tôn vinh những giá trị quý báu mà họ đã gây dựng cho nước nhà. Những ao đầm, gò bãi là sự hóa thân của những con người làm nên Đất Nước. Ở trên đất nước này đâu đâu cũng mang dáng dấp, những kỉ niệm của thế hệ ông cha. Hành trình hơn bốn nghìn năm lịch sử vẫn sẽ tiếp tục mãi mãi và cũng sẽ có nhiều hơn những kỉ niệm, những giai thoại được ghi vào sử sách. Tuy nhiên, không vì thế mà lối sống cha ông đi vào dĩ vãng, nó mãi là những tiếng âm vang, là niềm tự hào của con cháu sau này.

Đến đây, Nguyễn Khoa Điềm không điểm qua các triều đại, các anh hùng nổi tiếng mà nhấn mạnh đến vô vàn những con người vô danh, bình dị nhưng dũng cảm, kiên cường. Họ là những “con gái, con trai, không ai nhớ mặt đạt tên, giản dị và bình tâm” cần cù, chăm chỉ làm lụng gây dựng cuộc sống tốt đẹp. Khi nước nhà có giặc, họ lại đứng lên chiến đấu anh dũng, mạnh mẽ một lòng một dạ cùng nhau đoàn kết lấy lại độc lập dân tộc. Họ có thể là những con người vô danh, không ai nhớ mặt đặt tên nhưng chính họ là người giữ vững non sông này để có chúng ta ngày hôm nay. Không chỉ trên mặt trận chiến đấu mà họ còn là những anh hùng của đời thường. Những người vô danh đó đã giữ và truyền lại giá trị văn hóa, văn minh tinh thần và vật chất (văn minh lúa nước đã truyền lửa quanh mỗi nhà, tiếng nói, gánh theo tên làng xã, đắp đập be bờ). Điệp cấu trúc “họ…” đã gợi ra lớp lớp những con người nối tiếp nhau, giữ gìn và truyền lại cho các thế hệ sau giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp.

Đến đây, tác giả khẳng định tư tưởng đất nước của nhân dân: Đất Nước này, của nhân dân, do nhân dân làm ra gắn với những câu ca dao, thần thoại từ lâu đời, cội nguồn dân tộc, văn hóa dân gian. Đồng thời, tác giả cũng gửi gắm những bài học quý giá: anh em nên biết đoàn kết, yêu thương nhau từ thuở nằm nôi; biết quý trọng công sức những ngày gian khổ; biết nuôi ý chí mà đánh đuổi giặc ngoại xâm. Qua đây, tác giả một lần nữa khẳng định vẻ đẹp giản dị, mộc mạc của thế hệ những con người Việt Nam và chất “tình” có ở khắp mọi nơi trên đất nước này.

Bằng việc vận dụng khéo léo và mềm mại các chất liệu văn hóa dân gian cùng với ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, lời thơ nhẹ nhàng đúng giọng thủ thỉ tâm tình, tác giả Nguyễn Khoa Điềm đã mang đến cho bạn đọc một cách nhìn mới mẻ về cội nguồn của đất nước; về vẻ đẹp của một đất nước giàu văn hóa cổ truyền, đất nước của truyền thống, của phong tục tươi đẹp. Đồng thời, tác giả thể hiện rõ nét tư tưởng Đất nước của nhân dân qua ba chiều cảm nhận: địa lí, lịch sử và văn hóa vô cùng tinh tế, sâu sắc.

Nhiều năm tháng qua đi nhưng đoạn thơ cùng với trường ca “Mặt đường khát vọng” vẫn giữ nguyên vẹn những giá trị tốt đẹp ban đầu của nó và để lại ấn tượng đẹp đẽ, đọng lại trong tâm tư của bao thế hệ con người Việt Nam trước đây, bây giờ và cả sau này. Bản trường ca của tác giả Nguyễn Khoa Điềm làm ta thêm hiểu và yêu Đất nước đồng thời thôi thúc bản thân hành động để bảo vệ và phát triển đất nước này.

Cảm nhận Đất nước ngắn gọn – Mẫu 2

Mặt đường khát vọng là tập trường ca hùng tráng được Nguyễn Khoa Điềm hoàn thành ở chiến khu Trị – Thiên năm 1971. Bản trường ca khái quát quá trình thức tỉnh của tuổi trẻ các đô thị vùng tạm chiếm miền Nam. Họ nhận rõ bộ mặt xâm lược của đế quốc Mỹ; hướng về nhân dân, về đất nước; ý thức được sứ mệnh của thế hệ mình, đứng dậy xuống đường đấu tranh hòa nhịp với cuộc chiến đấu của toàn dân tộc. Đoạn trích Đất Nước thuộc phần đầu chương V của trường ca Mặt đường khát vọng.

Đất Nước có thể coi là chương hay nhất trình bày sự cảm nhận và lý giải của tác giả về đất nước, cũng đồng thời thể hiện sâu sắc tư tưởng cốt lõi của cả bản trường ca, đó là tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân”. Trình tự triển khai mạch suy nghĩ và cảm xúc của tác giả khá chặt chẽ nhưng cũng rất phóng túng. Đoạn thơ mở đầu bằng những lời định nghĩa say sưa về đất nước. Tiếp đó là sự hình dung về đất nước qua chiều dài thời gian – lịch sử, qua về rộng của không gian – lãnh thổ địa lí và qua chiều sâu văn hóa – phong tục, lối sống, tính cách của người dân Việt Nam, với một niềm tự hào sâu sắc. Từ ba bình diện này, lời thơ hào hứng, giàu chất suy tư hướng đến tư tưởng chủ đạo: “Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân”. Mạch cảm xúc và suy tư của bài thơ trôi chảy một cách tự nhiên, vừa chặt chẽ vừa đầy hứng khởi, đồng thời lại cũng có những vang động sâu xa.

Trong phần đầu của đoạn trích, bằng hình thức trữ tình – chính luận, nhà thơ đã đưa ra định nghĩa riêng của mình về đất nước bằng những cảm nhận về đất nước trong cổ tích, ca dao. Lời thơ định nghĩa thoát khỏi những khái niệm khó khăn để trở thành một cuộc chuyện trò gần gũi, thân mật mà bay bổng. Mức độ đậm đặc của các chất liệu lấy từ cổ tích, truyền thuyết, ca dao, dân ca, huyền thoại…. tạo cho đoạn thơ đầu một âm hưởng đầy quyến rũ. Những câu thơ như:

Đoạn thơ đầu làm mờ đi khái niệm đất nước là của các vương triều. Ngay từ lúc sơ khai, nó đã là của nhân dân. Định nghĩa đất nước bằng sự lựa chọn chất liệu từ văn hóa dân gian, đó là một ẩn ý của Nguyễn Khoa Điềm bời văn hóa dân gian của nhân dân. Cách định nghĩa của Nguyễn Khoa Điềm là một sự khám phá mới mẻ, độc đáo tạo ra sự hấp dẫn và thú vị đối với người đọc.

Cách định nghĩa về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm đã chạm được vào những gì thiêng liêng nhất, lớn lao nhất nhưng cũng lại gần gũi và thân thiết nhất đối với mỗi chúng ta. Nõ dễ gợi cho ta những suy ngẫm về quá khứ, về lòng tự hào dân tộc. Và bởi thế, nó thức tỉnh ý thức dân tộc và tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, với nhân dân trong mỗi chúng ta.

Phần sau của đoạn thơ từ “Những người vợ nhớ chồng” đến hết đoạn trích là phần tập trung làm nổi bật tư tưởng “Đất nước của nhân dân”. Trong phần này, tư tưởng đã quy tụ mọi cách nhìn nhận và đưa đến những phát hiện sâu sắc và mới mẻ của tác giả về địa lí, lịch sử và văn hóa của đất nước.

Quả là những phát hiện rất mới về thiên nhiên đất nước. Những núi Bút, non Nghiên, núi Vọng Phu, hòn Trống Mái… vốn đã rất quen thuộc nay bỗng trở nên thật lạ. Nó không phải là sản phẩm của tạo hóa mà là tâm hồn, là số phận của nhân dân. Đến đây, thiên nhiên, tạo hóa không phải là cái làm nảy sinh ra những câu chuyện đầy huyền thoại mà chính những câu chuyện về những tâm hồn, những số phận của con người trong quá khứ làm cho những danh thắng kia có tâm hồn, làm cho nó sống mãi. Cái nhìn rất thơ của tác giả đi đến một khái quát đầy thấm thía:

Tiếp nối những câu thơ khám phá độc đáo về thiên nhiên là những câu thơ khám phá vẻ đẹp tâm hồn, tính cách Việt Nam, cũng như vai trò, vị trí của con người Việt Nam trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Đó là những con người yêu thương sâu sắc, thủy chung tình nghĩa; là những con người cần cù lao động, anh hùng trong đánh giặc; là những con người “không ai nhớ mặt đặt tên” nhưng chính họ “đã làm ra Đất Nước”. Họ là những người âm thầm làm nên lịch sử, âm thầm gìn giữ những nét văn hóa của dân tộc qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử dân tộc.

Từ những khái quát giản dị nhưng đầy tính nhân văn, tác giả khẳng định:

Đó là một chân lý. Một chân lý đã được nhận thức trong suốt quá trình phát triển dài lâu của lịch sử nhưng chỉ đến văn học Việt Nam hiện đại, nó mới đạt đến đỉnh cao, mới cất lên thành những tuyên ngôn đầy tự hào và hang động sâu xa.

Cảm nhận Đất nước – Mẫu 3

Đất nước là đề tài muôn thuở của thơ văn Việt Nam. Chúng ta đã bắt gặp đất nước chìm trong đau thương, mất mát qua thơ Hoàng Cầm; gặp đất nước đang đổi mới từng ngày qua thơ Nguyễn Đình Thi. Nhưng có lẽ đất nước được nhìn từ nhiều khía cạnh, đầy đủ và trọn vẹn nhất qua bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm. Hình hài đất nước từ khi được sinh ra cho đến khi phải trải qua bao nhiêu sóng gió chiến tranh được tái diễn sinh động qua một hồn thơ tinh tế, phóng khoáng của Nguyễn Khoa Điềm.

Tác giả nhìn đất nước từ nhiều khía cạnh, trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử. Đất nước là tên gọi thiêng liêng, bình dị nhưng chất chứa bao nhiêu ngọn nguồn của cảm xúc chính tác giả.

Bài thơ được mở đầu bằng những vần thơ nhẹ nhàng, tinh tế đưa người đọc trở về với những ngày đầu mới khai sinh:

Đất nước hiện lên qua những câu thơ thật bình dị, gần gũi, nó không phải là một khái niệm trừu tượng mà là một khái niệm hiện hữu hằng ngày trong cuộc sống của mỗi chúng ta. Tác giả sử dụng từ “khi” để đánh dấu sự ra đời của khái niệm “đất nước”. Từ khi mỗi chúng ta sinh ra thì đất nước đã có rồi. Sau câu thơ ấy, tác giả bắt đầu lí giải nguồn gốc của đất nước mà mỗi người đều mong muốn hiểu thấu được. Giọng thơ dịu nhẹ, ngọt ngào dẫn dụ người đọc về với những “ngày xửa ngày xưa”. Đó như một nốt nhạc của quá khứ trở về trong những suy nghĩ của con người. Từ “ngày xửa, ngày xưa” đánh dấu những điều gì đó xa xưa, rất xưa, không xác định thời gian cụ thể, chỉ biết rằng nó đã có từ lâu đời. Đất nước đồng thời hình thành từ khi dân mình biết đánh giặc, là những con người đó làm nên đất nước…

Đất nước còn gắn liền với cuộc sống bình dị, thân quen của người nông dân Việt Nam. Tác giả không chỉ dừng lại ở đó, đất nước còn được lý giải chính là thành quả của công cuộc lao động để xây dựng và phát triển:

Một một dụng cụ được tạo ra để phục vụ cho đời sống sản xuất cũng như sinh hoạt của con người như “kèo, cột” đều gắn bó với lịch sử ra đời của đất nước. Rất bình dị, rất chân thực nhưng nó như là một sự giải thích đúng đắn. Hình ảnh Đất Nước trong 9 câu thơ đầu Việt Bắc qua sự cảm nhận của tác giả thật mới mẻ nhưng cũng rất gần gũi, thân thương.

Nguyễn Khoa Điềm như dẫn người đọc đi vào những cung bậc tình cảm khác của đất nước, đó là chuyện tình yêu lứa đôi e ấp nhưng tha thiết và mặn nồng:

Đất nước không chỉ hiển hiện trong không gian văn hóa, phong tục tập quán của con người mà còn hiện lên trong những tình yêu lứa đôi mặn nồng, tha thiết nhất. Tác giả đã cắt nghĩa “đất nước” thành hai từ “đất” và “nước” để lí giải cụ thể ý nghĩa của từng từ. Đây có thể coi là sự tinh tế và đầy thi vị của Nguyễn Khoa Điềm. Nhưng dù được tách ra thì đất nước vẫn là một khái niệm trọn vẹn và đầy ý nghĩa nhất.

Đất nước còn được mở ra theo chiều dài của lịch sử và chiều dài của không gian văn hóa, của những con người vẫn còn trằn trọc tha thiết đi tìm hình bóng quê hương. Đất nước được hình thành từ những câu chuyện xa xưa, từ những điển tích điển cố mà người đời sau vẫn luôn nhắc nhở nhau. Hình ảnh “con chim phượng hoàng”, “núi bà Đen, bà Điểm”, “Lạc Long Quân Âu Cơ” chính là minh chứng cho sự phát triển nhiều thăng trầm nhưng đáng tự hào của chúng ta. Nhớ về cội nguồn, nhớ về những ngày xưa vất vả chính là đạo lí, truyền thống uống nước nhớ nguồn mãnh liệt của nhân dân ta.

Đất nước trong ý niệm của Nguyễn Khoa Điềm còn là sự tiếp nối truyền thống:

Trong sự hình thành và phát triển bề dày văn hóa lịch sử ngày càng được khẳng định. Những con người đã ngã xuống vì đất nước, những con người thế hệ mai sau cần phải cố gắng gìn giữ và phát huy được truyền thống tốt đẹp đó.

Nguyễn Khoa Điềm đã có cái nhìn đa chiều về đất nước từ khía cạnh đời thường, khía cạnh lịch sử, khía cạnh không gian và thời gian mang đến cho người đọc nhận thức đúng đắn nhất về đất nước mà chúng ta đang sống và cống hiến.

Có thể nói đất nước đã đi vào và in hằn vào máu thịt của mỗi người, nhắc nhở trách nhiệm và nghĩa vụ của chúng ta về công cuộc xây dựng và bảo vệ sự vững mạnh của đất nước này.

Đất nước còn được Nguyễn Khoa Điềm tích lũy thành một khái niệm sâu sắc:

Một quan niệm sâu sắc, giàu giá trị nhân sinh quan khiến cho người đọc không thể phủ nhận sự tồn tại của đất nước là một thực tế. Đất nước còn biểu tượng cho lòng thành kính, sự biết ơn đến những người đã ngã xuống vì hòa bình, tự do cho hôm nay:

Lại thêm một sự lí giải đúng đắn cho định nghĩa “đất nước”, những con người đó họ dù chết nhưng trái tim họ vẫn còn sống mãi trong cuộc sống của những người ở lại. Nhưng ở hai câu thơ cuối có thể nói Nguyễn Khoa Điềm đã đưa ra định nghĩa đúng đắn và sâu sắc nhất về đất nước:

Thật vậy, nhân dân chính là chủ nhân của đất nước. Bởi vậy đất nước này phải thuộc về nhân dân. Tư tưởng của tác giả rất tiến bộ, rất đời thường và rất sâu sắc.

Như vậy, Nguyễn Khoa Điềm bằng những lý lẽ và dẫn chứng đầy thuyết phục đã khẳng định được vị trí, vai trò vô cùng to lớn của đất nước trong cuộc sống của mỗi con người. Gấp trang sách lại nhưng những hình ảnh về đất nước vẫn sống mãi trong lòng người đọc.

Cảm nhận về bài thơ Đất nước – Mẫu 4

Chương Đất Nước trích trong trường ca Mặt đường khát vọng là sự cảm của Nguyễn Khoa Điềm về vai trò và những hi sinh to lớn của nhân dân trong công cuộc dựng nước và giữ nước lâu dài của dân tộc. Cũng như những nhà thơ trẻ tiêu biểu của thời kỳ chống Mĩ, Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện những suy ngẫm của mình về nhân dân thông qua những trải nghiệm của chính bản thân mình. Tư tưởng “Đất nước của nhân dân, Đất nước của ca dao thần thoại” là tư tưởng chủ đạo, chi phối cả nội dung và hình thức chương V của bản trường ca này.

Tư tưởng chủ đạo nói trên được Nguyễn Khoa Điềm thể hiện bằng một hình thức thơ trữ tình – chính luận. Cái lý lẽ mà tác giả đưa ra nhằm thuyết phục người đọc thật giản dị: Không phải ai khác mà chính nhân dân – những người vô danh – đã kiến tạo và bảo vệ, giữ gìn đất nước, đã xây dựng nên những truyền thống vãn hoá, lịch sử hàng ngàn đời của dân tộc. Lý lẽ ấy nhà thơ không phát biểu một cách khô khan, trừu tượng mà bằng hình ảnh gợi bằng giọng thơ sôi nổi tha thiết của mình. Thông qua những vần thơ kết giữa cảm xúc và suy nghĩ, trữ tình và chính luận, Nguyễn Khoa Điềm muốn thức tỉnh ý thức, tinh thần dân tộc, tình cảm gắn bó với nhân dân, đất nước thế hệ trẻ trong những năm chống Mĩ.

Mượn hình thức trò chuyện tâm tình với một người con gái yêu thương, kết cấu chương V của bản trường ca có vẻ phóng túng, tự do, nhưng từ trong chiều sâu của cảm hứng của mỗi phần vẫn bám rất chắc vào tư tưởng cốt lõi: Đất nước nhân dân. Tư tưởng đó được nhà thơ thể hiện cụ thể, sinh động và được triển trên các bình diện: trong chiều dài của thời gian (thời gian đằng đẵng) và bề dày của truyền thống văn hoá, phong tục, tâm hồn và tính cách dân tộc. Ba phương diện ấy gắn bó, hoà quyện, thống nhất chặt chẽ với nhau trong một “hệ quy chiếu”. Đất nước của nhân dân vốn là linh hồn của cả bài thơ.

Cả chương V của bản trường ca Mặt đường khát vọng như được bao bọc bởi không khí của văn hoá dân gian. Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng rộng rãi và linh hoạt các chất liệu của văn hoá dân gian, từ ca dao, tục ngữ đến truyền thuyết, cổ tích, từ phong tục tập quán đến thói quen sinh hoạt trong đời sống hằng ngày của nhân dân. Những chất liệu ấy đã tạo nên một thế giới nghệ thuật vừa gần gũi, quen thuộc, vừa sâu xa, kì diệu, đủ gợi lên được cái hồn thiêng của non sông, đất nước. Điều đó không đơn thuần chỉ là thủ pháp nghệ thuật, cũng không phải chỉ là một tiếp thu có sáng tạo vãn học dân gian. Có thể nói, tư tưởng Đất nước của Nhân dân là tư tưởng chủ đạo của bài thơ – đã thấm nhuần từ quan niệm đến cảm xúc, từ hình tượng đến chi tiết nghệ thuật của bài thơ.

Phần đầu của bài thơ này, có thể xem là một định nghĩa về đất nước. Cố nhiên là định nghĩa theo cách riêng của thơ, được phát biểu thông qua những hình tượng cụ thể, sinh động, đầy gợi cảm.

Đất nước trước hết không phải là một khái niệm trừu tượng mà là những gì rất gần gũi, thân thiết, ở ngay trong cuộc sống bình dị của mỗi con người: Đất nước hiện hình lên qua những lời kể chuyện của mẹ, qua “miếng trầu bây giờ bà ăn”, qua cái kèo, cái cột, qua hạt gạo miếng cơm ta ăn hàng ngày.

Đất nước không phải là cái gì xa lạ mà ở ngay trong máu thịt của anh và em:

Nguyễn Khoa Điềm đã nói lên được sự gắn bó máu thịt giữa số phận cá nhân với vận mệnh chung của cộng đồng, của đất nước. Đó là tư tưởng chung của thời đại khi mà vấn đề dân tộc nói lên như một vân đề khác. Trách nhiệm, bổn phận đối với đất nước không phải là cái gì khác mà cũng chính là trách nhiệm đối với chính bản thân mình:

Đất nước còn được hình thành từ những truyền thống lịch sử, văn hoá, phong tục hàng ngàn đời của dân tộc. Nhà thơ đã khai thác ý nghĩa các thành tố Đất Nước trong mối quan hệ với không gian và thời gian, với lịch sử và hiện ta. Chiều sâu của lịch sử, truyền thống, phong tục và văn hoá của đất nước được gợi lên từ huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ, từ truyền thuyết Hùng Vương với ngày giỗ tổ, từ những câu ca dao quen thuộc, ở đây, đất nước được cảm nhận như là sự thống nhất của các phương diện truyền thống, vãn hoá, phong tục rất thiêng liêng song cũng rất gần gũi với cuộc sống của mỗi con người. Những giá trị tinh thần bền vững ấy của đất nước đã gắn liền với quá khứ, hiện tại với tương lai, được nuôi dưỡng qua các thế hệ:

Từ những quan niệm về đất nước như vậy, đến phần sau của bài thơ, tác giả tập trung làm nổi bật tư tưởng. Đất Nước của nhân dân, chính nhân dân là người sáng tạo ra Đất Nước.

Tư tưởng đó đã dẫn đến một cách nhìn mới mẻ, có chiều sâu về địa lí, những danh lam thắng cảnh trên khắp các miền đất nước. Những núi Vọng Phu những hòn Trống Mái, những núi Bút non Nghiên không còn là những cảnh thú thiên nhiên thuần tuý nữa, mà được cảm nhận thông qua những cảnh ngộ, số phận của nhân dân, được nhìn nhận như là những đóng góp của nhân dân, hoá thân của những con người không tên, không tuổi: “Những người vợ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu, Cặp vợ chồng yêu nhau nên hòn Trống Mái”. “Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình Bút non Nghiên”. Cả đến “Con cóc, con gà quê hương cũng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh”, ở đây, cảnh vật của thiên nhiên đất nước qua cái nhìn của Nguyễn Khoa Điềm hiện lên như một phần tâm hồn, máu thịt của nhân dân. Chính nhân dân đã tạo dựng nên đất nước này, đã đặt tên, đã ghi dấu vết cuộc đời mình mỗi ngọn núi, dòng sông, tấc đất này, từ những hình ảnh, những cảnh vật, hình tượng cụ thể, nhà thơ đã “quy nạp” thành một khái quát sâu sắc:

Tư tưởng Đất nước của Nhân dân đã chi phối cách nhìn của nhà thơ khi nghĩ về lịch sử bốn nghìn năm của đất nước. Nhà thơ không ngợi ca các triều đại, cũng không nói tới những anh hùng đã được ghi lại trong sử sách mà chỉ tập trung nói tới những con người vô đanh, bình thường, bình dị. Đất nước trước hết là của nhân dân, của những con người bình dị, vô danh đó:

Họ lao động và chống giặc ngoại xâm, họ giữ gìn và truyền lại cho các thế mai sau những giá trị văn hoá, văn minh tinh thần và vật chất của đất nước lại lúa, ngọn lửa, tiếng nói, lên xã, tên làng đến những truyện thần thoại, những câu ca dao, tục ngữ. Mạch cảm xúc, suy nghĩ của bài thơ cứ dồn tụ dần để cuối cùng dẫn tới cao trào, làm bật lên tư tưởng cốt lõi của bài thơ vừa bất ngờ vừa giản dị và độc đáo:

Đọc chương Đất Nước, có thể thấy rõ dấu ấn của vốn tri thức văn hoá nhà trường và sách vở, sự ảnh hưởng phong cách của một nhà thơ nào đó. Tuy nhiên, đó vẫn là chương tiêu biểu và tinh tuý nhất của trường ca Mặt đường khát vọng. Bài thơ vẫn tạo nên được những rung động âm vang trong lòng người đọc là nhờ tác giả từ những cảm xúc chân thành, từ sự trải nghiệm của bản mà nói lên những suy nghĩ chung của cả thế hệ mình về đất nước.

Cảm nhận về bài thơ Đất nước – Mẫu 5

Từ sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, dân tộc ta đã phải tiến hành liên tiếp hai cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược để gìn giữ nền độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc. Trong suốt ba mươi năm ấy, vận mệnh của đất nước luôn luôn là vấn đề lớn lao, nóng bỏng và chi phối mọi lĩnh vực của đời sống dân tộc và mỗi con người Việt Nam. Vì thế, cũng là lẽ tự nhiên, tình cảm yêu nước đã trở thành cảm hứng chủ đạo trong thơ ca hiện đại Việt Nam, tiếp nối một truyền thống sâu đậm của văn học dân tộc từ ngàn xưa. Tình cảm yêu nước được biểu hiện trong thơ ca ta thống nhất nhưng cũng rất đa dạng, phong phú tùy theo hoàn cảnh sáng tác, tâm trạng cụ thể của từng nhà thơ.

Trường ca Mặt đường khát vọng được viết giữa những năm tháng hào hùng cả toàn quân, toàn dân ta đang tập trung sức lực, tập trung trí tuệ để chiến thắng đế quốc Mĩ, có vai trò không nhỏ của tầng lớp tuổi trẻ học sinh, sinh viên các thành thị vùng tạm chiếm miền Nam đang thức tỉnh, siết chặt đội ngũ xuống đường. Tầng lớp này cũng có nhiều tâm tư, nhiều suy ngẫm về thế hệ mình, về đất nước. Từ góc độ đó, ở Đất Nước, chương V của bản trường ca Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm đã định nghĩa, cảm nhận ngợi ca vẻ đẹp nhiều mặt của đất nước, trình bày ý thức trách nhiệm đối với vận mệnh dân tộc giữa cơn thử thách lớn của lịch sử.

Advertisement

Hình tượng đất nước, trong cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm, gắn với những nhân vật, hình ảnh hết sức cụ thể với những sinh hoạt rất đỗi thường ngày của mỗi chúng ta. Tình yêu lớn lao nhưng không hề xa xôi, trừu tượng mà được khơi gợi từ những sự vật, sinh hoạt gần gũi, từ những phong tục văn hóa có tự ngàn xưa. Đất nước có trong những câu chuyện cổ tích mẹ thường hay kể cho ta từ tuổi bé thơ, trong miếng trầu bây giờ bà ăn, trong lũy tre làng bao đời thành lũy thành công cho dân mình đánh giặc. Đất nước gắn cùng tục búi tóc sau đầu, câu ca dao gừng cay muối mặn, gắn cùng cái kèo, cái cột, hạt gạo một nắng hai sương. Cảm nhận đất nước từ những cái bình thường quanh ta đã dẫn Nguyễn Khoa Điềm đến biện pháp nghệ thuật chiết tự. Từ ghép đất nước được tách thành đôi để nhà thơ định nghĩa thật cụ thể từng thành đôi.

Có lẽ chưa bao giờ như trong thời đại dân tộc Việt Nam ta đánh Mĩ, vai trò to lớn, sức mạnh vô địch của nhân dân được thể hiện đầy đủ đến thế. Cuộc đối chọi quyết liệt với một kẻ thù giàu có và hung bạo vào bậc nhất đòi hỏi phải huy động triệt để sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân. Bởi vậy, Đất Nước của Nhân dân đã trở thành tư tưởng chung của thời đại, đã chi phối toàn bộ nền văn học cách mạng và làm nên rất nhiều tác phẩm có giá trị. Trong bối cảnh ấy, đoạn trích Đất Nước trong trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm đã đóng góp một cách cảm nhận, cách thể hiện đặc sắc. Khi nói về bốn nghìn năm lịch sử của đất nước, nhà thơ không điểm lại các triều đại, những anh hùng nổi tiếng mà tự hào nhắc đến vô vàn lớp người vô danh bình dị:

Đối với nhân dân, cần cù làm lụng và ra trận đánh giặc, sống và chết đều thật giản dị và bình tâm vì lẽ tồn vong của đất nước. Khi đất nước thanh bình, họ “cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó”. Khi đất nước gặp nạn ngoại xâm, họ đứng dậy cầm vũ khí, sẵn sàng xả thân vì độc lập, chủ quyền như lẽ tự nhiên. Chính những con người không ai nhớ mặt đặt tên ấy đã làm ra Đất Nước. Trong trường kì lịch sử, nhân dân là lực lượng chủ yếu sáng tạo, giữ gìn truyền lại mọi tài sản vật chất, mọi giá trị tinh thần để làm nên Đất Nước muôn đời:

Bao lớp người vô danh, thầm lặng ấy đã hóa thân cho đất nước vững bền. Nguyễn Khoa Điềm đã cảm nhận sự hóa thân của nhân dân hiển hiện trên gương mặt địa lí của đất nước. Không ít tác phẩm thơ văn đã nhắc tới những danh lam thắng cảnh, những sự tích núi sông của đất nước Việt Nam bốn ngàn năm văn hiến. Nhưng gắn chúng cùng số phận, cùng phẩm chất của những người dân bình dị, thấy trong đó cuộc đời hi sinh cao đẹp của quần chúng nhân dân, ấy là Nguyễn Khoa Điềm. Sau khi nhắc tới hàng loạt danh lam thắng cảnh, sự tích núi sông trên các miền đất nước, nhà thơ đi đến một khái quát thấm thía:

Làm sáng tỏ tư tưởng Đất Nước của nhân dân từ nhiều phía, nhiều chiều như thế, đoạn trích đã đem đến cho người đọc niềm tin vào sự trường tồn của đất nước. Đất Nước là của nhân dân, mà nhân dân thì mênh mông, vĩ đại và bất tử. Vì thế, Đất Nước này mãi mãi trường tồn cùng với nhân dân.

Chiêm ngưỡng tiếp nhận Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại từ góc độ thế hệ trẻ trong thời đại dân tộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ, Nguyễn Khoa Điềm đã gợi nhắc trách nhiệm đối với vận mệnh đất nước. Phải chăng đây chính là mục đích của đoạn thơ Đất Nước này khi ra đời giữa những năm tháng chiến tranh quyết liệt, hào hùng, khi lịch sử đang yêu cầu mọi con người phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở. Ý thức trách nhiệm này được Nguyễn Khoa Điềm cảm nhận, dẫn dắt rất tự nhiên cùng quá trình khám phá ngày càng sâu về đất nước. Ban đầu, đất nước là những gì thân thiết ở ngoài ta, ở xung quanh ta. Nhưng dần về sau, đất nước đã ở trong ta, đất nước có trong mỗi người:

Mỗi con người hôm nay đều đang thừa hưởng những di sản vật chất và tinh thần quý báu của đất nước, của nhân dân, của bao thế hệ đi trước, vì thế phải biết cống hiến đời mình vì lẽ tồn vong của đất nước. Ý thức trách nhiệm được nhà thơ trình bày thật thiết tha. Đó là mệnh lệnh cất lên từ trái tim đang xúc động:

Như vậy, tiếp thu nguồn mạch cảm hứng yêu nước chưa bao giờ vơi cạn trong lịch sử văn học Việt Nam, nằm trong bối cảnh của thời đại dân tộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ, đoạn trích Đất Nước trong trường ca Mặt đường khát vọng đã thể hiện những nhận thức, khám phá mới mẻ về vẻ đẹp đất nước. Trên nền văn hóa dân gian vững chắc, Nguyễn Khoa Điềm đã hướng sự tìm tòi, suy ngẫm tới nhiều bình diện như lịch sử, địa lí, phong tục… để làm nổi bật tư tưởng Đất Nước của Nhân dân và gợi nhắc ý thức trách nhiệm trước vận mệnh đất nước. Nhưng sức hấp dẫn của chương Đất Nước không chỉ ở các nội dung cảm nhận mà còn ở cách thể hiện của Nguyễn Khoa Điềm. Khi đưa vào đây nhiều kiến thức về lịch sử, địa lí, về văn hóa dân gian, thơ dễ sa vào diễn ca theo lối phô bày hiểu biết, dễ chỉ tác động vào lí trí mà khó lay thức tình cảm người đọc. Nguyễn Khoa Điềm đã vượt qua thử thách đó và Đất Nước vừa làm sáng bừng nhận thức, vừa lay động sâu xa tâm hồn mỗi con người Việt Nam. Cái gì đã tạo nên thành công ấy? Điều chủ yếu là do tất cả các kiến thức, tư liệu, sự kiện phong phú này đã được thẩm thấu qua tâm hồn chứa chan xúc cảm của Nguyễn Khoa Điềm và nhà thơ đã tìm được một cách nói riêng, bằng giọng điệu tâm tình, qua hồi ức lại những kỉ niệm riêng tư:

Ngay từ phần mở đầu, Đất Nước dẫn ta vào câu chuyện tâm tình thiết tha, sâu lắng. Toàn bộ chương này được thể hiện bằng hình thức “anh” trò chuyện cùng “em”. Với hình thức này, giọng điệu thơ tất phải ngọt ngào, thủ thỉ. Nguyễn Khoa Điềm nói về lịch sử mà như tâm sự về những kỉ niệm tuổi thơ, như nhắc lại những hồi ức cảm động về người thân trong gia đình là bà, là mẹ. Bề dày của lịch sử, của nền văn hóa phong phú, lâu đời, cả không khí của truyền thuyết Thánh Gióng, cổ tích Trầu Cau bỗng được sống dậy trong cảm nhận gần gũi của mỗi người đọc. Chính nhờ lối thể hiện ấy mà vẻ đẹp sâu xa của đất nước, ý thức trách nhiệm công dân trước vận mệnh đất nước được người đọc nhận cảm một cách tự nhiên, thấm thía.

Tiếp nối dòng mạch thơ ca yêu nước trong lịch sử văn học dân tộc, Đất Nước trong trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm đã mang nội dung cảm nhận cùng cách thể hiện thật độc đáo. Thành công của đoạn trích Đất Nước này góp phần chứng tỏ tầm trí tuệ, sức khám phá của một nhà thơ trưởng thành cùng thời đại kháng chiến chống Mĩ cứu nước anh hùng.

………………

Cập nhật thông tin chi tiết về Văn Mẫu Lớp 12: Dàn Ý Cảm Nhận Vẻ Đẹp Sông Hương Trong Lòng Thành Phố Huế (4 Mẫu) Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông Của Hoàng Phủ Ngọc Tường trên website Bgxq.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!